Giá nhiên liệu tăng đột biến và mạng bay đảo lộn do xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran là cú sốc khiến các hãng hàng không trên toàn cầu phải thay đổi chiến lược vận hành.
Theo ông Jaime Brito, Giám đốc điều hành mảng lọc dầu và sản phẩm dầu mỏ tại OPIS, Trung Đông hiện xuất khẩu khoảng 1,1 triệu thùng nhiên liệu bay mỗi ngày, tương đương gần 17% nhu cầu toàn cầu. Tuy nhiên, việc eo biển Hormuz bị phong tỏa do xung đột đang làm gián đoạn nguồn cung dầu thô và nhiên liệu hàng không, gây thiếu hụt tại nhiều khu vực.
Trong bối cảnh nhiên liệu chiếm tới khoảng 25% chi phí vận hành, các hãng hàng không buộc phải triển khai nhiều biện pháp ứng phó. Đồng thời, nhiều hãng cũng cảnh báo nguy cơ nguồn cung có thể suy giảm mạnh trong vài tuần tới, kéo theo rủi ro giá vé tăng cao và gián đoạn khai thác, thậm chí phải hủy chuyến.
Theo khảo sát của Tạp chí Hàng không, tính đến thời điểm này có 05 chiến lược phổ biến nhất mà các hãng hàng không trên thế giới đang áp dụng:
.jpg)
1. Tăng giá vé và phụ phí nhiên liệu
Đây là phản ứng phổ biến nhất nhằm chuyển một phần chi phí sang hành khách.
Ngày 12/3, Air France-KLM cho biết dự kiến tăng khoảng 57 USD cho vé khứ hồi đường dài.
Hãng hàng không Pakistan tăng giá vé các chuyến bay nội địa và quốc tế lần lượt là 20 USD và tối đa 100 USD từ 12/3, do phụ phí nhiên liệu tăng cao.
Từ 10/3, Air New Zealand tăng giá trên toàn mạng bay, từ nội địa đến đường dài. Trong đó, giá vé hạng phổ thông một chiều sẽ tăng 6 USD trên các tuyến nội địa, 12 USD trên các chuyến bay quốc tế chặng ngắn và 54 USD trên các chuyến bay đường dài, và có thể có những thay đổi về giá cả, mạng lưới và lịch trình nếu chi phí nhiên liệu vẫn ở mức cao.
Từ 11/3, Thai Airways điều chỉnh giá vé tăng 10–15% trên toàn mạng bay.
Virgin Australia cho biết đang điều chỉnh giá để phản ánh áp lực chi phí.
Các hãng như Cathay Pacific, Akasa Air hay IndiGo áp dụng hoặc tăng phụ phí nhiên liệu trên toàn mạng bay. Trong đó, từ 18/3, Cathay Pacific sẽ tăng phụ phí nhiên liệu trên tất cả các tuyến bay.
Akasa Air áp dụng phụ phí nhiên liệu dao động từ 199 đến 1.300 rupee Ấn Độ (2-14 USD) trên các chuyến bay nội địa và quốc tế từ ngày 14/3.
IndiGo áp dụng phí nhiên liệu cho các chuyến bay nội địa và quốc tế từ 14/3, trong đó mức áp dụng 900 rupee (gần 11 USD) cho các chuyến bay đến Trung Đông và phí 2.300 rupee (gần 28 USD) cho các chuyến bay đến châu Âu.
Trong khi đó, Hong Kong Airlines cho biết tăng phụ phí nhiên liệu lên tới 35,2% từ ngày 12/3, với mức tăng mạnh nhất đối với các chuyến bay giữa Hong Kong (Trung Quốc) và Maldives, Bangladesh, Nepal, nơi phí sẽ tăng từ 36 USD lên 49 USD.
Xu hướng: giá vé tăng có chọn lọc theo đường bay và hạng ghế, đặc biệt mạnh ở các tuyến dài.
2. Điều chỉnh mạng bay và cắt giảm công suất
Khi chi phí nhiên liệu tăng cao, các hãng ưu tiên tối ưu hóa mạng bay thay vì duy trì quy mô.
Vào ngày 20/3, đại diện United Airlines cho biết cắt giảm 5% các đường bay không sinh lời trong hai quý tới khi chuẩn bị cho kịch bản giá dầu duy trì trên 100 USD cho đến cuối năm 2027.
Hãng cũng chủ động cắt giảm tần suất khai thác trong giai đoạn thấp điểm, đồng thời tạm dừng một số đường bay quốc tế, trong đó có các chặng đến Israel và Dubai do ảnh hưởng xung đột. Giám đốc điều hành Scott Kirby cảnh báo, nếu giá nhiên liệu tiếp tục neo ở mức cao, chi phí nhiên liệu hàng không có thể đội thêm khoảng 11 tỷ USD mỗi năm.
.jpg)
Ngày 17/3, SAS cho biết hủy 1.000 chuyến bay trong tháng 4. Đối với tháng 3, hãng hàng không này cho biết đã hủy "vài trăm" chuyến bay.
Từ 12/3, Aegean Airlines của Hy Lạp dự kiến dừng các chuyến bay tới Trung Đông. Giá nhiên liệu tăng vọt sẽ có "tác động đáng kể" đến kết quả quý đầu tiên của hãng.
Từ 01/04, Vietnam Airlines dự kiến tạm dừng khai thác trên nhiều đường bay: Hải Phòng-Buôn Mê Thuột (HPH-BMW), Hải Phòng-Cam Ranh (HPH-CXR), Hải Phòng-Phú Quốc (HPH-PQC), Hải Phòng-Cần Thơ (HPH-VCA), Tp. Hồ Chí Minh-Vân Đồn (SGN-VDO), Tp. Hồ Chí Minh- Rạch Giá (SGN-VKG), Tp. Hồ Chí Minh- Điện Biên (SGN-DIN). Số chuyến bay bị hủy trên các đường bay trên là 23 chuyến/tuần.
Xu hướng: giảm tần suất, hủy chuyến hoặc rút khỏi các thị trường rủi ro cao.
3. Điều chỉnh chiến lược mạng và công suất linh hoạt
Một số hãng không chỉ cắt giảm mà còn tái phân bổ công suất sang các thị trường hiệu quả hơn.
Ngày 10/3, Qantas Airways vừa tăng giá vé quốc tế, vừa cân nhắc tăng công suất trên các tuyến châu Âu.
Ngày 13/3, Cebu Pacific (Cebu Air) của Philippines cho biết sẽ liên tục rà soát chiến lược giá và mạng bay để giảm thiểu tác động.
Xu hướng: dịch chuyển năng lực khai thác sang các tuyến có nhu cầu cao và biên lợi nhuận tốt hơn.
4. Điều chỉnh dự báo tài chính và quản trị rủi ro
Biến động nhiên liệu buộc các hãng phải cập nhật lại kỳ vọng tài chính.
Ngày 17/3, American Airlines dự báo chi phí quý I tăng thêm 400 triệu USD do chi phí nhiên liệu tăng mạnh trong tháng 3.
Cũng trong ngày 17/3, Frontier Airlines đang xem xét lại triển vọng cả năm.
Từ 10/3, Air New Zealand thậm chí thông báo tạm dừng dự báo lợi nhuận năm tài chính 2026.
Xu hướng: tăng mức độ thận trọng, điều chỉnh hoặc rút lại những dự báo về tài chính.
5. Phòng ngừa rủi ro và vận động chính sách
Một số hãng sử dụng công cụ tài chính hoặc tìm kiếm hỗ trợ từ chính phủ.
Ngày 10/3, International Airlines Group (công ty mẹ của British Airways) không tăng giá ngay nhờ đã phòng ngừa rủi ro giá nhiên liệu cho phần lớn hoạt động trong ngắn hạn đến trung hạn.
Vietnam Airlines đề xuất bỏ thuế môi trường với nhiên liệu bay khi chi phí đã tăng khoảng 70%.
Ngày 14/3, IndiGo vận động chính phủ Ấn Độ giảm thuế nhiên liệu.
Xu hướng: kết hợp công cụ thị trường và chính sách để giảm áp lực chi phí.
Có thể nói cú sốc giá nhiên liệu lần này đang buộc ngành hàng không toàn cầu quay lại “chế độ phòng thủ”: tăng giá, siết công suất, tối ưu mạng bay và kiểm soát tài chính chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, mức độ tác động sẽ không đồng đều – những hãng có chiến lược phòng ngừa nhiên liệu tốt hoặc mạng bay linh hoạt sẽ có lợi thế rõ rệt trong giai đoạn biến động kéo dài.