Dưới cánh bay

Cục trưởng Cục Hàng không: Hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường

Trần Minh Thu 14/07/2026 18:30

Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng đã có những chia sẻ tâm huyết với Tạp chí Hàng không về hành trình phát triển đầy tự hào của ngành hàng không dân dụng Việt Nam

bia-uvd-1-.png
box-sapo-don-gian-7-(1).png

Phóng viên: Năm 2026 đánh dấu cột mốc 70 năm Ngày truyền thống ngành hàng không dân dụng Việt Nam. Ông đánh giá như thế nào về những đóng góp của ngành hàng không đối với việc phát triển kinh tế- xã hội, với sự vươn mình của đất nước?

Ông Uông Việt Dũng: Trải qua chặng đường gian khó nhưng đầy tự hào kể từ ngày thành lập vào năm 1956, đến nay ngành hàng không dân dụng Việt Nam đã chứng kiến một hành trình phát triển phi thường, khẳng định vị thế là ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, đặc biệt an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế của đất nước.

Nhìn lại chặng đường 70 năm, có thể khẳng định những đóng góp to lớn của ngành trên các phương diện sau:

Thứ nhất, đối với khách hàng, ngành hàng không đã làm thay đổi căn bản phương thức đi lại, giúp việc di chuyển của người dân trở nên thuận tiện, nhanh chóng, xóa nhòa mọi trở ngại về khoảng cách địa lý và địa hình. Đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, sự gia nhập thị trường của nhiều hãng hàng không mới (như Vietjet Air, Bamboo Airways, Vietravel Airlines, Sun PhuQuoc Airways...) đã thúc đẩy tính cạnh tranh, đa dạng hóa trải nghiệm dịch vụ. Điều này giúp hành khách có thêm nhiều lựa chọn linh hoạt, phù hợp với nhu cầu và túi tiền, biến hàng không từ một dịch vụ xa xỉ trở thành phương tiện phổ thông, dễ dàng tiếp cận hơn cho mọi người dân.

img_4436.jpg
Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng dẫn đầu đoàn kiểm tra công tác phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tại sân bay Nội Bài.

Thứ hai, đối với phát triển kinh tế - xã hội, hàng không đã trở thành một trong những nền tảng quan trọng của kinh tế, giữ vai trò là “mạch máu” kết nối, bổ sung mối liên hệ chặt chẽ trong chuỗi sản xuất - cung ứng - tiêu thụ; đồng thời là động lực cho tăng trưởng của ngành dịch vụ, thương mại, đầu tư và là “cấu phần” không thể tách rời, đồng hành cùng ngành du lịch.

Đến năm 2050, Việt Nam dự kiến có 37 cảng hàng không bao gồm 20 cảng hàng không quốc tế và 17 cảng hàng không nội địa.
Ngành hàng không dân dụng Việt Nam đã chứng kiến một hành trình phát triển phi thường.

Hàng không không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn thúc đẩy liên kết vùng, phát triển các địa phương, kết nối các trung tâm kinh tế trọng điểm của cả nước với thế giới. Thực tiễn cho thấy nhiều địa phương như: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Phú Quốc, Vân Đồn, Cam Ranh, Đà Nẵng hay Cần Thơ đã có những bước phát triển mạnh mẽ nhờ hệ thống hạ tầng - dịch vụ hàng không. Theo đánh giá của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), riêng năm 2024, ngành hàng không đóng góp khoảng 17,5 tỷ USD cho nền kinh tế Việt Nam, tương đương khoảng 4,1% GDP và tạo ra khoảng 2,5 triệu việc làm trực tiếp, gián tiếp và lan tỏa. Những con số này là minh chứng cho những đóng góp của ngành hàng không đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ ba, với đất nước, trong quá khứ đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và độc lập dân tộc, lực lượng hàng không từ lúc còn non trẻ đã dũng cảm thực hiện hàng nghìn chuyến bay trong lửa đạn để vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men và phục vụ các nhiệm vụ ngoại giao chiến lược. Trong thời bình, hàng không không chỉ là biểu tượng của hội nhập, của khát vọng vươn lên mà với vai trò là cầu nối giao thương quốc tế, ngành hàng không còn thể hiện vị thế của quốc gia trên trường quốc tế; góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến với thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam.

text(1).jpg

Phóng viên: Theo ông đâu là những dấu mốc và thành tựu nổi bật nhất của ngành hàng không Việt Nam trong 70 năm qua?

Ông Uông Việt Dũng: Ngày 15/01/2026 đánh dấu tròn 70 năm Ngày truyền thống ngành Hàng không dân dụng Việt Nam (15/01/1956 - 15/01/2026). Bảy thập kỷ qua là hành trình đầy tự hào của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành hàng không, từ những ngày đầu gian khó với cơ sở vật chất nghèo nàn, đội tàu bay ít ỏi, đến một ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, đóng vai trò động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia.

tp(1).png

Ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã chỉ đạo thành lập Ban Nghiên cứu Không quân (năm 1949) với mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có trình độ, làm hạt nhân cho lực lượng Hàng không dân dụng và Không quân nhân dân Việt Nam sau này.

Ngày 15/01/1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 666/TTg thành lập Cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.

Ngày 16/6/1957, khi về thăm quê hương Nghệ An, tại sân bay Vinh, Bác căn dặn: “Bây giờ nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn khó khăn, Đảng và Nhà nước ta còn nhiều việc phải lo. Sau này đất nước ta chắc chắn sẽ có những sân bay, máy bay hiện đại, Hàng không Việt Nam sẽ phát triển... Các chú phải cố gắng học tập, nắm vững khoa học kỹ thuật’’.

Bac Ho tren san bay Vinh trong chuyen ve tham que huong sau 50 nam xa cach
Ngày 16/6/1957, trong chuyến công tác và về thăm quê hương Nghệ An, tại sân bay Vinh, Bác Hồ đã căn dặn: "Sau này đất nước ta chắc chắn sẽ có những sân bay, máy bay hiện đại, Hàng không Việt Nam sẽ phát triển... Các chú phải cố gắng học tập, nắm vững khoa học kỹ thuật".

Thực hiện lời Bác căn dặn, trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, lực lượng hàng không dân dụng đã từng bước xây dựng tổ chức, đào tạo nhân lực, tiếp nhận trang thiết bị kỹ thuật và mở những đường bay đầu tiên phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế, quốc phòng của đất nước.

Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên hàng không đã vượt qua muôn vàn gian khổ, thực hiện nhiệm vụ vận tải hàng không phục vụ chiến trường, bảo đảm thông tin liên lạc và chi viện cho tiền tuyến.

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, ngành hàng không bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiệm vụ tiếp quản, khôi phục và khai thác hệ thống sân bay trên cả nước, từng bước thống nhất mạng lưới vận tải hàng không quốc gia.

tp(2).png

Một trong những dấu mốc quan trọng nhất của ngành là việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) vào năm 1980. Đây là bước ngoặt quan trọng đưa hàng không Việt Nam hội nhập với hệ thống hàng không dân dụng toàn cầu.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, từ cuối những năm 1980, ngành hàng không bắt đầu chuyển đổi mạnh mẽ theo cơ chế thị trường, từng bước hiện đại hóa đội tàu bay, cơ sở hạ tầng và phương thức quản lý.

Năm 1993, Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam được thành lập, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của một hãng hàng không mang tầm khu vực. Năm 1995, Tổng công ty Hàng không Việt Nam ra đời, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tổ chức và quản trị doanh nghiệp hàng không.

Giai đoạn từ năm 2000 đến nay chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ chưa từng có của ngành hàng không Việt Nam. Hệ thống pháp luật hàng không dân dụng không ngừng được hoàn thiện, từng bước tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế; môi trường kinh doanh hàng không ngày càng thông thoáng, cạnh tranh và minh bạch.

Sự xuất hiện của các hãng hàng không mới cùng quá trình xã hội hóa đầu tư hạ tầng hàng không đã tạo động lực mạnh mẽ cho thị trường hàng không phát triển nhanh và bền vững.

tp(3).png

Hạ tầng hàng không không ngừng được mở rộng, hiện đại hóa

Từ một số sân bay nhỏ với điều kiện khai thác hạn chế, đến nay Việt Nam đã hình thành mạng lưới hơn 20 cảng hàng không đang khai thác, trải dài từ Bắc vào Nam, góp phần rút ngắn khoảng cách địa lý, thúc đẩy liên kết vùng và phát triển kinh tế.

Nhiều công trình trọng điểm đã trở thành biểu tượng cho sự phát triển của ngành như Nhà ga hành khách T2 Nội Bài, Nhà ga quốc tế T2 Tân Sơn Nhất, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, Nhà ga T2 Phú Bài, Nhà ga hành khách T3 Tân Sơn Nhất và đặc biệt là Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành – dự án hạ tầng chiến lược quốc gia đang được triển khai.

Công trường sân bay Long Thành.
Công trường Cảng HKQT Long Thành.

Thị trường hàng không tăng trưởng thuộc nhóm cao của khu vực

Trong nhiều năm liên tiếp trước đại dịch COVID-19, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường hàng không tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Số lượng hành khách vận chuyển tăng hàng chục lần so với giai đoạn đầu đổi mới; mạng đường bay nội địa phủ khắp các vùng miền, trong khi mạng đường bay quốc tế kết nối Việt Nam với các trung tâm kinh tế, chính trị và du lịch lớn trên thế giới.

Hàng không đã trở thành phương thức vận tải quan trọng đối với người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng du lịch, thương mại và đầu tư.

Bảo đảm an toàn hàng không theo chuẩn mực quốc tế

An toàn luôn được xác định là mục tiêu cao nhất của ngành hàng không. Trong nhiều năm qua, hệ thống quản lý nhà nước về an toàn hàng không của Việt Nam không ngừng được củng cố và hoàn thiện. Năng lực giám sát an toàn của nhà chức trách hàng không được nâng cao; các quy định, quy trình kỹ thuật được cập nhật phù hợp với tiêu chuẩn của ICAO.

kip-truc.jpg
Việt Nam đã xây dựng được hệ thống quản lý hoạt động bay, quản lý an toàn hàng không ngày càng hiện đại, góp phần duy trì môi trường khai thác an toàn, ổn định và tin cậy.

Việt Nam đã xây dựng được hệ thống quản lý hoạt động bay, quản lý an toàn hàng không ngày càng hiện đại, góp phần duy trì môi trường khai thác an toàn, ổn định và tin cậy.

Hình thành đội ngũ nhân lực hàng không chất lượng cao

Từ những cán bộ kỹ thuật đầu tiên được đào tạo trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, đến nay ngành hàng không đã xây dựng được đội ngũ hàng chục nghìn lao động có trình độ chuyên môn cao, làm chủ công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, khai thác cảng hàng không, điều hành bay, bảo dưỡng tàu bay, an toàn hàng không và vận tải hàng không.

z7707415619451_c4239d11beec4706fd5435f89d9da6cd.jpg
Ông Uông Việt Dũng - Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam (thứ hai từ phải qua) đi thăm Trung tâm đào tạo của VAECO.

Nguồn nhân lực chất lượng cao đã trở thành một trong những yếu tố quyết định bảo đảm cho sự phát triển bền vững của ngành.

Khẳng định vai trò cầu nối hội nhập quốc tế

Hàng không dân dụng Việt Nam đã và đang là cầu nối quan trọng đưa Việt Nam đến gần hơn với thế giới.

Thông qua mạng lưới đường bay quốc tế ngày càng mở rộng, hàng không góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch, thúc đẩy xuất nhập khẩu và giao lưu văn hóa.

Ngành hàng không Việt Nam hiện tham gia sâu rộng vào các tổ chức, diễn đàn và cơ chế hợp tác hàng không quốc tế, khẳng định vai trò là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng hàng không toàn cầu.

Vợt qua thách thức, khẳng định bản lĩnh

Đại dịch COVID-19 được xem là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử ngành hàng không thế giới. Trong bối cảnh đó, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đã thể hiện tinh thần trách nhiệm và năng lực ứng phó hiệu quả.

t69 Chien binh - 1
Thành viên phi hành đoàn trên chuyến bay mang số hiệu VN06 của Vietnam Airlines đón 219 lao động Việt Nam tại Guinea Xích Đạo về nước.

Hàng nghìn chuyến bay đã được tổ chức để vận chuyển vật tư y tế, đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước, phục vụ công tác phòng, chống dịch và bảo đảm chuỗi cung ứng hàng hóa.

Sau đại dịch, ngành hàng không nhanh chóng phục hồi hoạt động khai thác, từng bước lấy lại đà tăng trưởng và tiếp tục đóng góp quan trọng cho nền kinh tế.

Hướng tới tương lai với khát vọng phát triển mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn từ tiến trình chuyển đổi số, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nhu cầu vận tải hàng không ngày càng tăng.

Các định hướng phát triển trong thời gian tới tập trung vào hoàn thiện kết cấu hạ tầng hàng không đồng bộ, hiện đại; nâng cao năng lực quản lý nhà nước; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số; xây dựng nền hàng không xanh, thân thiện môi trường và phát triển bền vững.

Với nền tảng được xây dựng qua 70 năm, cùng sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam có đầy đủ cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu trở thành ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới.

Tự hào truyền thống – Vững bước tương lai

Bảy mươi năm qua là chặng đường của ý chí, khát vọng và những nỗ lực không ngừng nghỉ của các thế hệ cán bộ, người lao động ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.

Từ những chuyến bay đầu tiên trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn đến mạng lưới hàng không hiện đại kết nối Việt Nam với thế giới hôm nay, mỗi dấu mốc phát triển đều ghi đậm dấu ấn cống hiến, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm của biết bao thế hệ đi trước.

Phát huy truyền thống vẻ vang ấy, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam sẽ tiếp tục đổi mới, sáng tạo, đoàn kết và phát triển, vững bước trong kỷ nguyên mới, góp phần đưa đất nước vươn cao, hội nhập sâu rộng và khẳng định vị thế Việt Nam trên bầu trời thế giới.

screenshot-2026-05-27-at-20.17.08(1).png
Cục trưởng Uông Việt Dũng tặng quà, thăm hỏi, động viên người lao động Vietnam Airlines tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài trong đợt nắng nóng cao điểm hè 2026. Ảnh: Phan Công

Phóng viên: Những tồn tại, thách thức của ngành hàng không dân dụng Việt Nam mà ông muốn khắc phục ngay là gì? Với vai trò là người đứng đầu ngành hàng không dân dụng Việt Nam, ông vừa có đề xuất năm 2026 là năm Lấy khách hàng làm trung tâm phục vụ? Lý do là gì thưa ông?

Ông Uông Việt Dũng: Dù đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào, nhưng chúng tôi thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn những hạn chế, thách thức cần phải tập trung khắc phục ngay.

Một là, vấn đề về áp lực hạ tầng và tình trạng quá tải tại một số cảng hàng không lớn. Cơ sở hạ tầng cảng hàng không tại một số khu vực trọng điểm đang rơi vào tình trạng quá tải, điển hình như Cảng HKQT Tân Sơn Nhất tại nhiều thời điểm khai thác đã vượt quá công suất thiết kế. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ và gây áp lực lên công tác quản lý, điều phối tại cảng.

Bên cạnh đó, công tác quy hoạch cảng hàng không, sân bay tại một số địa phương chưa thực sự đồng bộ, cũng đang là một tồn tại, dẫn đến khó khăn trong kêu gọi đầu tư và phát triển.

Hai là, tình trạng chậm, hủy chuyến bay vẫn thường xảy ra tại các giai đoạn cao điểm như lễ, Tết... gây ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch đi lại của hành khách cũng như uy tín của ngành. Đây là vấn đề mà ngành cũng đã thẳng thắn nhìn nhận, chỉ ra và từ phía cơ quan quản lý chuyên ngành, Cục HKVN đã yêu cầu các hãng hàng không phải có giải pháp cụ thể, phối hợp cùng các đơn vị phục vụ cảng để khắc phục, giảm thiểu tình trạng này.

dsc09976-2.jpg
Nhiên liệu bay là một trong những khoản chi phí lớn nhất của hãng hàng không, thường chiếm gần 30% tổng chi phí.

Thứ ba, là những thách thức hiện hữu mang tính toàn cầu về biến động giá và nguồn cung nhiên liệu do xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông. Điều này đang tác động trực tiếp làm tăng chi phí vận hành của các hãng hàng không, đồng thời làm thay đổi kế hoạch, lịch trình khai thác và trong trường hợp diễn biến lâu dài sẽ tác động đến khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại, di chuyển và suy yếu triển vọng phát triển của thị trường.

Ngoài ra, những thách thức mang tính dài hạn cũng cần được quan tâm xử lý như năng lực của các doanh nghiệp hàng không Việt Nam còn hạn chế trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt; yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng, trình độ cao để đáp ứng được yêu cầu phát triển; các tiêu chuẩn khai thác ngày một nâng cao, cùng vấn đề chuyển đổi xanh và phát triển bền vững… tất cả đang đặt ra những bài toán khó cần có lộ trình và nguồn lực đầu tư lớn để từng bước khắc phục và giải quyết.

quote-2-1-.png

Việc lựa chọn chủ đề này xuất phát từ lý do rất đơn giản nhưng cũng rất căn bản, đó là thành công, hình ảnh của hàng không cuối cùng đều được đo bằng sự hài lòng và những đánh giá của khách hàng. Qua 70 năm phát triển, ngành hàng không đã có những bước tiến vượt bậc về hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ và năng lực vận tải.

Đây là lúc chúng ta cần chuyển trọng tâm từ phát triển “lượng” sang nâng cao “chất” – điều đó được thể hiện qua chất lượng phục vụ và sự hài lòng của hành khách. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao, không chỉ với các hãng hàng không nước ngoài và ngay cả các hãng trong nước, việc tạo ra những trải nghiệm khác biệt, thân thiện, chuyên nghiệp chính là lợi thế cạnh tranh bền vững nhất. Một hành khách hài lòng sẽ là sứ giả thương hiệu tốt nhất cho mỗi hãng hàng không và cho cả ngành. Định hướng này cũng hoàn toàn phù hợp với chủ trương “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ” trong công cuộc cải cách hành chính của đất nước.

Ảnh màn hình 2026-07-14 lúc 09.50.20
Cục trưởng Uông Việt Dũng (phải) trực tiếp kiểm tra công tác chuẩn bị ứng phó với bão số 3 (Wipha) năm 2025 tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài.

Ngành hàng không sẽ “lấy khách hàng làm trung tâm phục vụ”- đây không chỉ là khẩu hiệu mà còn là phương châm hành động xuyên suốt của toàn ngành. Từ cơ quan quản lý nhà nước, cảng hàng không, hãng hàng không đến các đơn vị cung cấp dịch vụ mặt đất, an ninh, thương mại hàng không sẽ cùng nhau chuyển mình, tự đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đó cũng chính là con đường để hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của ngành hàng không trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Theo ông, với thị trường hơn 100 triệu dân và đã hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam “nên có bao nhiêu hãng hàng không là hợp lý”?

Ông Uông Việt Dũng: Dưới góc độ nhà quản lý quy hoạch thị trường, tôi cho rằng không có một con số cố định nào về số lượng hãng hàng không được coi là "hợp lý" một cách tuyệt đối. Điều quan trọng không phải là có bao nhiêu hãng hàng không, mà là thị trường có đủ sức hấp thụ hay không, hạ tầng có đáp ứng được hay không, và các hãng có đủ năng lực để phát triển bền vững hay không.

e9f8e36bd46d7148848a736c4d3e8692fa840030dc8d29b04f1e496812ef3343eb736016123-_z6352289484985-7dc51bd03d9b1d4209b962b1bc52fae5.jpg
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh và Cục trưởng Cục Hàng không Uông Việt Dũng kiểm tra cao điểm các đơn vị trong ngành hàng không dịp Tết Ất Tỵ.

Hiện nay Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số trên 100 triệu người, tầng lớp trung lưu tăng nhanh, nhu cầu du lịch, giao thương và hội nhập quốc tế ngày càng lớn, hoạt động sản xuất và vận chuyển tiêu thụ hàng hoá qua đường hàng không, đặc biệt là những mặt hàng có giá trị cao cũng đang có xu hướng tăng trưởng đều qua các năm. Thị trường hàng không Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Hành khách làm thủ tục tại khu vực check-in ga quốc tế Sân bay Nội Bài.
Từ cơ quan quản lý nhà nước, cảng hàng không, hãng hàng không đến các đơn vị cung cấp dịch vụ mặt đất, an ninh, thương mại hàng không sẽ cùng nhau chuyển mình, tự đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.

Về nguyên tắc chung, Cục Hàng không Việt Nam luôn ủng hộ các nhà đầu tư có năng lực tham gia thị trường nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật về vốn, đội tàu bay, nhân lực, an toàn khai thác và mô hình kinh doanh khả thi.

Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy không phải cứ nhiều hãng hàng không là thị trường sẽ phát triển tốt hơn. Điều quan trọng là phải duy trì được sự cân bằng giữa: Quy mô thị trường, năng lực hạ tầng, khả năng giám sát an toàn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu có quá ít hãng hàng không thì mức độ cạnh tranh không cao. Nhưng nếu số lượng hãng quá nhiều trong khi quy mô thị trường và hạ tầng chưa tương xứng thì có thể dẫn tới cạnh tranh thiếu bền vững, hiệu quả kinh doanh suy giảm, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và khả năng đầu tư dài hạn.

Do đó, với vai trò cơ quan quản lý nhà nước, chúng tôi không đặt mục tiêu phải có một số lượng hãng hàng không nhất định mà chúng tôi hướng tới xây dựng một thị trường hàng không cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, an toàn và phát triển bền vững, trong đó các doanh nghiệp đủ năng lực đều có cơ hội tham gia và phát triển.

box-sapo-don-gian(1).png

Phóng viên: Chưa bao giờ hàng không Việt Nam lại phát triển bùng nổ như hiện nay, đặc biệt là ở 3 lĩnh vực: Cơ chế chính sách – quản lý; vận tải và kết cấu hạ tầng hàng không. Theo ông, nguyên nhân và mục tiêu của sự bùng nổ này là gì?

Ông Uông Việt Dũng: Có thể khẳng định rằng, ngành hàng không Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất từ trước đến nay. Sự phát triển này không phải là hiện tượng nhất thời, mà là kết quả của quá trình tích lũy nhiều năm về thể chế, nguồn lực đầu tư, trình độ quản lý và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Trước hết, về nguyên nhân, tôi cho rằng có ba động lực chính.

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước đã xác định kết cấu hạ tầng giao thông là một trong ba đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững. Trong đó, hàng không giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là phương thức vận tải hiện đại, có tính kết nối cao, tạo động lực phát triển kinh tế, du lịch, thương mại, đầu tư và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách mới đã và đang được triển khai theo hướng tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, huy động tối đa nguồn lực xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển hạ tầng chiến lược. Đồng thời, yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển hệ thống hàng không với quy mô lớn hơn, hiện đại hơn và có năng lực phục vụ cao hơn.

hop-khan.png
Cục Hàng không Việt Nam đã họp khẩn với các hãng trong đêm để tìm phương án ứng phó, sau khi có lệnh thu hồi 6.000 máy bay A320 của Airbus do nguy cơ bức xạ mặt trời làm nhiễu dữ liệu bay.

Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Sự gia tăng mạnh mẽ của thương mại, đầu tư, du lịch và dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đã làm nhu cầu vận tải hàng không tăng trưởng ở mức cao và ổn định. Hàng không ngày càng trở thành phương thức vận tải chiến lược, không chỉ phục vụ đi lại mà còn thúc đẩy thương mại, logistics, đầu tư và phát triển các trung tâm kinh tế.

Thứ ba, quá trình đô thị hóa, gia tăng thu nhập của người dân và sự phát triển của tầng lớp trung lưu đã tạo ra nhu cầu đi lại bằng đường hàng không ngày càng lớn. Việt Nam tiếp tục được đánh giá là một trong những thị trường hàng không tăng trưởng nhanh nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với dư địa phát triển lớn trong dài hạn.

Sự phát triển bùng nổ hiện nay được thể hiện đồng bộ trên cả ba trụ cột: Cơ chế chính sách - quản lý nhà nước; vận tải hàng không; và kết cấu hạ tầng hàng không.

Về cơ chế chính sách và quản lý nhà nước, ngành hàng không đang tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, minh bạch, tiệm cận các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường giám sát; thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng mô hình quản trị hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Về vận tải hàng không, mục tiêu không chỉ là tăng trưởng về sản lượng mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực cạnh tranh của các hãng hàng không Việt Nam; mở rộng mạng đường bay trong nước và quốc tế; phát triển vận tải hàng hóa, logistics hàng không và từng bước đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển hàng không có vị trí quan trọng trong khu vực.

Về kết cấu hạ tầng, ngành hàng không đang triển khai đồng thời nhiều dự án trọng điểm quốc gia và các dự án mở rộng cảng hàng không hiện hữu. Trong đó, nổi bật là dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 với công suất 25 triệu hành khách/năm, định hướng nâng lên 50 triệu hành khách/năm vào năm 2030; Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với quy mô khoảng 30 triệu hành khách/năm; các cảng hàng không Quảng Trị, Phan Thiết, Thổ Chu; đồng thời mở rộng Cảng HKQT Phú Quốc với công suất khoảng 14 triệu hành khách/năm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức các sự kiện quốc tế lớn.

Song song với đó là việc chuẩn bị đầu tư, nâng cấp và mở rộng các cảng hàng không hiện hữu như Đà Nẵng, Cam Ranh, Cát Bi, Cà Mau, Đồng Hới... Các dự án này không chỉ giải quyết tình trạng quá tải tại các trung tâm hàng không lớn mà còn tạo dư địa phát triển dài hạn, nâng cao khả năng kết nối vùng, bảo đảm phát triển hài hòa giữa các địa phương và hướng tới mục tiêu duy trì tăng trưởng vận tải hàng không ở mức hai con số trong những năm tới.

72.jpg
Cục trưởng Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng tại Lễ công bố Quy hoạch Cảng HKQT Phú Quốc thời kỳ 2021 -2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển này không chỉ là xây dựng một ngành hàng không lớn mạnh về quy mô, mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống hàng không hiện đại, an toàn, thông minh, xanh và bền vững; bảo đảm kết nối hiệu quả giữa các vùng miền, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Ngành hàng không Việt Nam không chỉ đang mở rộng về hạ tầng và sản lượng vận tải, mà còn đang chuyển mình để trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế và là cửa ngõ kết nối Việt Nam với thế giới.

Phóng viên: Theo đánh giá của ông, triển vọng trong lĩnh vực an ninh, an toàn quản lý bay và công nghiệp hàng không sắp tới và trong vòng 10 năm tới sẽ ra sao, thưa ông?

Ông Uông Việt Dũng: Thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới của ngành hàng không - kỷ nguyên của sự dịch chuyển thông minh, xanh hơn và tích hợp sâu sắc về mặt công nghệ. Trong vòng 10 năm tới (tầm nhìn 2035), triển vọng toàn cầu và khu vực sẽ xoay quanh việc hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Tổ chức hàng không dân dụng Quốc tế (ICAO), trọng tâm là lộ trình Nâng cấp các khối hệ thống hàng không (ASBU). Ba lĩnh vực then chốt cùng không gian tầm thấp sẽ chuyển mình mạnh mẽ theo các xu hướng lớn sau:

box-sapo-don-gian-2-(1).png

An toàn luôn là nền tảng cốt lõi của ngành hàng không. Xu hướng 10 năm tới không chỉ là "duy trì" mà là "tiên lượng và chủ động phòng ngừa" dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI).

Chuyển đổi từ ATM sang Không lưu dựa trên Quỹ đạo (TBO - TrajectoryBased Operations): Đây là mục tiêu cốt lõi của các khối ASBU hiện tại và tương lai. Thay vì quản lý tàu bay theo từng phân khu rời rạc, hệ thống quản lý bay sẽ tối ưu hóa toàn bộ quỹ đạo chuyến bay từ sân bay khởi hành đến sân bay đích theo thời gian thực. Điều này giúp giảm thiểu tối đa việc bay chờ, tiết kiệm nhiên liệu và giảm phát thải CO2.

1-194.jpg
Cục trưởng Uông Việt Dũng đã đến thăm, tặng quà và chúc Tết Nguyên đán năm 2026 cán bộ, nhân viên Công ty Quản lý bay miền Trung tại trụ sở mới.

Quản lý thông tin toàn hệ thống (SWIM): Việc chia sẻ dữ liệu khí tượng (MET), tin tức hàng không (AIS/AIM) và dữ liệu dòng không lưu (ATFM) kỹ thuật số theo thời gian thực giữa các quốc gia sẽ trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, giúp tăng năng lực thông qua của vùng trời và giảm tải cho kiểm soát viên không lưu.

Tích hợp các phương tiện bay mới (AAM/UAM): Hệ thống quản lý bay trong 10 năm tới sẽ phải chuyển đổi để quản lý một vùng trời hỗn hợp phức tạp, nơi các tàu bay truyền thống chia sẻ không gian với các phương tiện bay không người lái (Drone) và taxi hàng không đô thị.

box-sapo-don-gian-2-(2).png

Khi công nghệ CNS/ATM dịch chuyển hoàn toàn sang nền tảng số và kết nối mạng diện rộng, ranh giới của an ninh hàng không sẽ mở rộng từ an ninh vật lý sang an ninh phi vật lý.

An ninh mạng trong Quản lý bay: Việc bảo vệ các hệ thống giám sát (Radar, ADS-B), hệ thống dẫn đường vệ tinh (GNSS) và mạng thông tin liên lạc trước các nguy cơ tấn công mạng, can thiệp vô tuyến (chèn ép/giả mạo tín hiệu GPS) sẽ là ưu tiên hàng đầu trong các chương trình an ninh của ICAO.

An ninh sân bay thông minh: Áp dụng triệt để công nghệ sinh trắc học (Biometrics), nhận diện khuôn mặt kết hợp AI để tối ưu hóa quy trình kiểm tra an ninh hành khách, hướng tới trải nghiệm "không tiếp xúc" và "không gián đoạn" (seamless travel), vừa nâng cao hiệu suất vừa phát hiện sớm các rủi ro an ninh độc hại.

box-sapo-don-gian-2-(3).png

Hàng không tầm thấp (dưới 1.500m) đang trở thành mặt trận tăng trưởng kinh tế mới đầy sôi động với sự bùng nổ của thiết bị bay không người lái (UAV/Drone) và taxi hàng không đô thị (eVTOL).

Thiết lập hệ thống quản lý lưu thông tầm thấp (UTM): Khi mật độ phương tiện bay tầm thấp tăng nhanh, hệ thống quản lý hoạt động bay truyền thống (ATM) sẽ được hỗ trợ hoặc tích hợp với hệ thống UTM tự động hóa hoàn toàn. Hệ thống này dựa trên nền tảng số, AI và mạng 5G/6G để tự động cấp phép bay, phân định ranh giới vùng trời động, tự động phát hiện và ngăn ngừa va chạm (Detect and Avoid).

Mô hình Vùng trời hỗn hợp (Integrated Airspace): Thách thức lớn của ICAO và các quốc gia thành viên là xây dựng hành lang pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật để tích hợp an toàn hoạt động bay tầm thấp vào không gian lưu thông hàng không dân dụng chung, đảm bảo không ảnh hưởng đến các đường bay tiếp cận sân bay của tàu bay lớn.

Hạ tầng cất hạ cánh thông minh (Vertiports): Sự ra đời của mạng lưới các "Vertiport" tại các đô thị lớn đòi hỏi các tiêu chuẩn mới về an ninh bề mặt, quản lý tiếng ồn, và hệ thống sạc điện nhanh công suất lớn để phục vụ nền kinh tế tầm thấp (Low-altitude Economy).

box-sapo-don-gian-2-(4).png

Công nghệ hàng không Việt Nam là một lĩnh vực mới nhưng có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của ngành hàng không Việt Nam trong giai đoạn tới.

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2025 đã lần đầu tiên dành các quy định riêng về phát triển công nghiệp hàng không, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển hệ sinh thái công nghiệp hàng không quốc gia.

Đây cũng là sự chuyển dịch trong tư duy phát triển của ngành hàng không Việt Nam, từ việc tập trung chủ yếu vào khai thác vận tải hàng không sang phát triển đồng thời năng lực công nghiệp, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực hàng không.

6s3a5345.jpeg
Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam làm Trưởng đoàn có chuyến khảo sát, làm việc tại Nhật Bản bổ nhiệm công tác soạn thảo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (thay thế).

Trong giai đoạn tới, mục tiêu của Việt Nam không chỉ là phát triển thị trường vận tải hàng không, hệ thống cảng hàng không hay đội tàu bay, mà còn hướng tới hình thành Hệ sinh thái công nghiệp hàng không dân dụng Việt Nam đồng bộ, hiện đại và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình phát triển ngành hàng không mà còn là cơ hội để Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp hàng không.

Hệ sinh thái này bao gồm Nhà chức trách hàng không, các hãng hàng không, doanh nghiệp cảng hàng không, doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay, doanh nghiệp kỹ thuật hàng không, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp phụ trợ và các đối tác quốc tế cùng tham gia vào chuỗi giá trị hàng không. Mục tiêu không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn từng bước đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành hàng không.

Hiện nay, Việt Nam đã hình thành một số năng lực ban đầu trong lĩnh vực bảo dưỡng tàu bay, dịch vụ kỹ thuật hàng không, sản xuất một số thiết bị mặt đất, ứng dụng công nghệ số trong quản lý và khai thác hàng không.

Tuy nhiên, các hoạt động này còn phân tán và chưa được kết nối thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Đây cũng là lý do Cục Hàng không Việt Nam đang nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các định hướng chiến lược phát triển hệ sinh thái công nghiệp hàng không dân dụng trong giai đoạn tới, nhằm xác định các lĩnh vực ưu tiên, xây dựng lộ trình phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam và xu hướng phát triển của thế giới.

1 (1)
Cục trưởng Uông Việt Dũng phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của Cục Hàng không.

Trong khoảng 10 năm tới, tôi cho rằng công nghiệp hàng không Việt Nam sẽ tập trung phát triển theo một số định hướng lớn.

Thứ nhất, phát triển mạnh lĩnh vực bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay (MRO), nâng cao năng lực kỹ thuật trong nước đối với tàu bay, động cơ, thiết bị và linh kiện hàng không; từng bước mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho thị trường khu vực, góp phần giảm chi phí khai thác và nâng cao tính chủ động của ngành hàng không Việt Nam.

Thứ hai, phát triển công nghiệp phụ trợ hàng không, trong đó ưu tiên các lĩnh vực Việt Nam có tiềm năng và lợi thế như sản xuất linh kiện, phụ tùng, vật tư kỹ thuật, thiết bị hỗ trợ mặt đất, thiết bị phục vụ khai thác cảng hàng không, các giải pháp công nghệ và sản phẩm hỗ trợ hoạt động bay. Đây là những lĩnh vực có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế.

Thứ ba, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa trong toàn bộ chuỗi hoạt động hàng không. Chúng tôi kỳ vọng sẽ từng bước hình thành các nền tảng dữ liệu chuyên ngành, trung tâm giám sát an toàn hàng không hiện đại và các hệ thống hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, năng lực giám sát an toàn và chất lượng dịch vụ hàng không.

Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong hàng không thông qua triển khai nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), giảm phát thải khí nhà kính, ứng dụng công nghệ xanh và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng hợp tác quốc tế. Chúng tôi mong muốn tiếp tục tăng cường hợp tác với các tổ chức, tập đoàn hàng không hàng đầu thế giới như Airbus và các đối tác quốc tế khác trong các lĩnh vực đào tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số, quản lý vùng trời, an toàn hàng không, phát triển công nghiệp hàng không và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thời gian qua, trong các cuộc làm việc với Airbus và nhiều đối tác quốc tế, chúng tôi nhận thấy Việt Nam đang được đánh giá là một trong những thị trường hàng không năng động nhất khu vực, đồng thời có tiềm năng trở thành trung tâm kỹ thuật, dịch vụ và công nghiệp hàng không mới của Đông Nam Á.

Việc các đối tác quốc tế quan tâm đến việc kết nối doanh nghiệp Việt Nam với mạng lưới cung ứng toàn cầu, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển hệ sinh thái công nghiệp hàng không là những tín hiệu rất tích cực cho giai đoạn phát triển tiếp theo của ngành.

box-sapo-don-gian-4-1-.png

Với nền tảng pháp lý mới, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường hàng không, chủ trương đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Đảng, Nhà nước cùng sự đồng hành của các đối tác quốc tế, chúng tôi tin tưởng rằng trong thập niên tới, công nghiệp hàng không sẽ trở thành một động lực phát triển mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường tính tự chủ của ngành hàng không và đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phóng viên: Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Hàng không dân dụng Việt Nam, ông muốn gửi gắm thông điệp gì tới các thế hệ cán bộ, người lao động ngành hàng không và cộng đồng doanh nghiệp đang đồng hành cùng sự phát triển của ngành?

Ông Uông Việt Dũng: Trước hết, nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Hàng không dân dụng Việt Nam, tôi xin gửi tới các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành hàng không cùng cộng đồng doanh nghiệp hàng không lời tri ân sâu sắc và những tình cảm tốt đẹp nhất.

Bảy mươi năm qua là chặng đường đầy tự hào của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam. Từ những ngày đầu còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, các thế hệ cán bộ, người lao động ngành hàng không đã không ngừng nỗ lực, vượt qua thử thách, cống hiến trí tuệ, sức lực và lòng tận tụy để xây dựng, phát triển ngành hàng không ngày càng hiện đại, an toàn, hội nhập quốc tế sâu rộng, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế đất nước.

Kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống không chỉ là dịp để chúng ta nhìn lại những thành tựu đã đạt được mà còn là cơ hội để khẳng định quyết tâm tiếp tục đổi mới, phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới. Tôi mong muốn các thế hệ cán bộ, người lao động ngành hàng không tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, trách nhiệm, kỷ cương, chuyên nghiệp, sáng tạo; luôn lấy an toàn là giá trị cốt lõi, lấy chất lượng dịch vụ làm động lực và lấy sự phát triển bền vững làm mục tiêu xuyên suốt.

box-sapo-don-gian-5-(1).png

Với nền tảng truyền thống 70 năm vẻ vang, tôi tin tưởng rằng, toàn ngành Hàng không dân dụng Việt Nam sẽ tiếp tục đoàn kết, chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nắm bắt hiệu quả các cơ hội phát triển, xây dựng ngành hàng không Việt Nam trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, an toàn, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường trong kỷ nguyên mới.

70 năm là dấu mốc đáng tự hào, nhưng cũng là điểm khởi đầu cho một chặng đường phát triển mới. Với truyền thống vẻ vang đã được hun đúc qua nhiều thế hệ, ngành Hàng không dân dụng Việt Nam sẽ tiếp tục vươn cao, vươn xa, góp phần kết nối đất nước với thế giới và hiện thực hóa khát vọng phát triển của dân tộc trong thời đại mới.

box-sapo-don-gian-6-(1).png
Nổi bật
Mới nhất
Cục trưởng Cục Hàng không: Hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO