Ba sân bay lớn của Việt Nam cùng được vinh danh trên bảng xếp hạng châu Á
Thu Hằng•08/09/2026 12:01
Tân Sơn Nhất, Nội Bài và Đà Nẵng được Hội đồng Sân bay Quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Trung Đông (ACI APAC & MID) ghi nhận trong nhóm các sân bay có mức cải thiện kết nối hàng không nổi bật theo từng quy mô khai thác.
Theo báo cáo Chỉ số Kết nối hàng không (Air Connectivity Index) năm 2025 do Hội đồng Sân bay Quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Trung Đông (ACI APAC & MID) công bố ngày 7/9, Tân Sơn Nhất, Nội Bài và Đà Nẵng nằm trong nhóm các sân bay có mức cải thiện kết nối nổi bật theo từng quy mô khai thác.
Kết quả này được ghi nhận trong bối cảnh mạng lưới hàng không châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục mở rộng, với mức độ kết nối tăng 10% trong năm 2025.
Theo đó, chỉ số Kết nối hàng không của ACI được sử dụng để đánh giá mức độ thuận tiện trong việc di chuyển bằng đường hàng không giữa một sân bay với các điểm đến. Chỉ số này không chỉ tính số lượng đường bay mà còn xem xét tần suất khai thác, quy mô mạng lưới, khả năng nối chuyến và tầm quan trọng của các điểm đến.
Theo ACI, trong năm 2025 mức độ kết nối hàng không tại châu Á - Thái Bình Dương tăng 10%. Tính cả khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Trung Đông, mức tăng đạt 11%, trong đó Trung Đông ghi nhận mức tăng tới 21%.
Trong số 315 sân bay được đưa vào đánh giá, 74% ghi nhận kết nối được cải thiện. Các sân bay trung tâm (hub) tiếp tục đóng vai trò quan trọng khi 83-97% các sân bay hub lớn ghi nhận tăng trưởng kết nối, chủ yếu nhờ các hãng hàng không mở rộng mạng lưới đường bay và nhu cầu đi lại quốc tế duy trì tích cực.
Tuy nhiên, mức tăng 10% của khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2025 đã chậm lại so với mức 14% của năm 2024. Theo ACI, đây là dấu hiệu cho thấy thị trường đang chuyển từ giai đoạn phục hồi mạnh sau đại dịch sang giai đoạn tăng trưởng ổn định và bền vững hơn.
Trong xu hướng chung của khu vực, ba sân bay lớn của Việt Nam là Tân Sơn Nhất, Nội Bài và Đà Nẵng được ACI ghi nhận có mức cải thiện kết nối đáng chú ý.
Cụ thể, Cảng HKQT Nội Bài và Tân Sơn Nhất nằm trong nhóm các sân bay có mức cải thiện kết nối nổi bật ở phân khúc phục vụ từ 25-40 triệu hành khách mỗi năm. Trong khi đó, Cảng HKQT Đà Nẵng được ghi nhận trong nhóm cải thiện nổi bật ở phân khúc 5-15 triệu hành khách mỗi năm.
Việc cả ba sân bay cùng được ghi nhận trong các nhóm có mức cải thiện kết nối nổi bật cho thấy mạng lưới hàng không của Việt Nam đang ngày càng được mở rộng và tăng khả năng kết nối với khu vực.
Tân Sơn Nhất, Nội Bài và Đà Nẵng hiện đều là những cửa ngõ hàng không quan trọng, kết nối các trung tâm kinh tế, du lịch lớn của Việt Nam với nhiều điểm đến trong nước và quốc tế.
Việc tăng cường kết nối tại các sân bay không chỉ giúp hành khách có thêm lựa chọn về đường bay mà còn tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch, thương mại và giao thương quốc tế.
Sự cải thiện kết nối không chỉ thể hiện ở số lượng đường bay mà còn ở lượng hành khách di chuyển trong khu vực.
Năm 2025, lưu lượng hành khách nội vùng châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 91% tổng lượng hành khách khởi hành, tăng 5% so với năm 2024 và cao hơn 5% so với năm 2019 - thời điểm trước đại dịch Covid-19.
Trong khi đó, lượng hành khách từ châu Á - Thái Bình Dương đi các khu vực khác trên thế giới cũng tiếp tục tăng. Lưu lượng liên lục địa tăng 7% so với năm 2024 và cao hơn 12% so với trước đại dịch. Các đường bay tới châu Âu, Trung Đông, Trung và Nam Mỹ và châu Phi đều đã vượt mức năm 2019. Riêng lượng khách tới Bắc Mỹ vẫn thấp hơn khoảng 9% so với thời điểm trước đại dịch.
Những con số này cho thấy hàng không khu vực đang dần chuyển từ giai đoạn phục hồi sang một chu kỳ tăng trưởng dài hạn, trong đó việc mở rộng mạng lưới đường bay, tăng cường các trung tâm trung chuyển và khai thác hiệu quả hạ tầng hiện có sẽ đóng vai trò quan trọng.
Nhà ga T1 - Cảng HKQT Nội Bài.
Theo ACI, lượng hành khách tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Trung Đông có thể đạt 11 tỷ lượt trong ba thập kỷ tới. Điều này đặt ra yêu cầu lớn đối với các sân bay trong việc nâng cao năng lực khai thác, chất lượng dịch vụ và khả năng kết nối.
Ông Stefano Baronci, Tổng Giám đốc ACI khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Trung Đông, nhận định tăng trưởng kết nối hàng không là tín hiệu đáng khích lệ. Sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch, năm 2025 đánh dấu sự chuyển dịch từ việc khôi phục năng lực sang chuẩn bị cho tăng trưởng bền vững.
Theo ông Baronci, trong bối cảnh nhu cầu đi lại quốc tế tiếp tục tăng, các sân bay cần sử dụng hiệu quả hơn năng lực hiện có, nâng cao độ tin cậy khai thác, cải thiện trải nghiệm hành khách và tiếp tục đầu tư vào hạ tầng, công nghệ.
Bước sang năm 2026, dù phải đối mặt với những bất ổn về kinh tế và địa chính trị, hàng không châu Á Thái Bình Dương vẫn duy trì đà tăng trưởng.
Trong nửa đầu năm 2026, kết nối hàng không trực tiếp tại khu vực tăng khoảng 0,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, khu vực Trung Đông ghi nhận mức giảm mạnh 23% do ảnh hưởng của xung đột địa chính trị, khiến nhiều hãng hàng không phải cắt giảm lịch bay hoặc thay đổi đường bay để tránh các khu vực không phận bị ảnh hưởng.
Ông Baronci cho biết lưu lượng hành khách tại châu Á – Thái Bình Dương trong nửa đầu năm 2026 tăng khoảng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Dù triển vọng vẫn còn nhiều thách thức, nhu cầu đi lại quốc tế cùng nền tảng giao thông nội địa vững chắc được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng trung và dài hạn.
Ông Stefano Baronci, Tổng Giám đốc ACI khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Trung Đông
“
ACI khuyến nghị các quốc gia tiếp tục hoàn thiện chính sách, quy định nhằm tạo điều kiện cho việc mở rộng kết nối hàng không. Trong đó, cần rà soát, điều chỉnh các thỏa thuận hàng không hiện hành, tiếp tục đơn giản hóa các yêu cầu về thị thực và cải cách cơ chế phân bổ giờ cất, hạ cánh tại các sân bay.
Chỉ số Kết nối hàng không ACI APAC & MID năm 2026 đánh giá 315 sân bay, gồm 277 sân bay tại châu Á - Thái Bình Dương và 38 sân bay tại Trung Đông. Các sân bay được đánh giá có quy mô từ dưới 1 triệu đến hơn 95 triệu hành khách mỗi năm.
Chỉ số kết hợp cả kết nối trực tiếp, kết nối gián tiếp và khả năng trung chuyển, đồng thời đánh giá chất lượng của các kết nối dựa trên số ghế cung ứng, tầm quan trọng của điểm đến và khả năng nối chuyến.