Khách Trung Quốc đến Nhật Bản giảm hơn 56%, hàng không phục hồi chậm
Lượng khách du lịch từ Trung Quốc đại lục đến Nhật Bản giảm hơn 56% trong tháng 7/2026, đánh dấu tháng thứ tám liên tiếp đi xuống.
Khách Trung Quốc đến Nhật Bản giảm tháng thứ tám liên tiếp
Theo số liệu Cơ quan Xúc tiến Du lịch Nhật Bản (JNTO) công bố ngày 19/8, lượng khách từ Trung Quốc đại lục đến Nhật Bản trong tháng 7/2026 giảm mạnh tới 56,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tháng thứ tám liên tiếp lượng khách Trung Quốc giảm mạnh, tiếp nối xu hướng bắt đầu từ tháng 12/2025.
Lũy kế 7 tháng của năm 2026, lượng khách Trung Quốc đại lục đến Nhật Bản giảm tới 56,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, tổng lượng khách quốc tế đến Nhật Bản trong tháng 7 vẫn tăng nhẹ 0,1%, chấm dứt chuỗi giảm kéo dài 4 tháng. Nhu cầu từ Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hồng Kông (Trung Quốc), Malaysia và khu vực Trung Đông đã giúp bù đắp phần nào sự sụt giảm từ Trung Quốc đại lục.

Tuy nhiên, tính chung sau 7 tháng của năm 2026, tổng lượng khách quốc tế đến Nhật Bản vẫn giảm 1,7%, cho thấy sự suy giảm của thị trường Trung Quốc đang diễn ra mạnh hơn đáng kể so với xu hướng chung của du lịch quốc tế tới Nhật Bản.
Căng thẳng ngoại giao phủ bóng lên du lịch
Sự sụt giảm diễn ra trong bối cảnh quan hệ giữa Bắc Kinh và Tokyo trở nên căng thẳng sau những phát ngôn gây tranh cãi của Thủ tướng Nhật Bản, Sanae Takaichi về vấn đề Đài Loan hồi tháng 11/2025.
Sau đó, Trung Quốc đưa ra cảnh báo công dân về việc đi du lịch Nhật Bản. Các hãng hàng không lớn của Trung Quốc cũng cắt giảm nhiều chuyến bay thẳng tới Nhật Bản.
Tác động rõ nhất xuất hiện ở phân khúc tour du lịch theo nhóm, vốn đóng vai trò quan trọng trong dòng khách Trung Quốc đến Nhật Bản.
Li Hanming, một nhà phân tích độc lập trong lĩnh vực hàng không và du lịch, cho rằng sự sụt giảm của các tour theo nhóm là một trong những nguyên nhân chính.
Theo ông, khi có cảnh báo du lịch chính thức, các công ty lữ hành có xu hướng hạn chế tổ chức tour theo nhóm, khiến lượng khách đi theo hình thức này giảm mạnh.

Sự thay đổi trong cơ cấu du khách cũng đang trở nên rõ rệt. Jocean Zhou, một quản lý mạng xã hội tại Thượng Hải và thường xuyên tới Nhật Bản, cho biết trước đây các điểm du lịch nổi tiếng tại Nhật Bản thường xuất hiện đông đảo các đoàn khách Trung Quốc.
Hiện nay, phần lớn du khách Trung Quốc mà ông quan sát được là khách đi tự túc. Tuy nhiên, ngay cả nhóm khách này cũng đang chịu áp lực từ chi phí đi lại tăng cao.
Do số lượng chuyến bay trực tiếp giảm, giá vé máy bay đã tăng đáng kể. Zhou cho biết ông dự định tới Nhật Bản vào tháng 9 và phải trả khoảng 1.800 nhân dân tệ (khoảng 267,5 USD) cho vé khứ hồi của một hãng hàng không giá rẻ, trong khi năm trước mức giá chỉ ở khoảng vài trăm nhân dân tệ.
Điều này khiến chuyến đi Nhật Bản trở nên kém hấp dẫn hơn đối với những du khách nhạy cảm về chi phí.
Phí visa tăng gấp 5 lần
Chi phí chuyến đi còn chịu thêm áp lực từ chính sách visa mới của Nhật Bản. Từ ngày 1/7/2026, Nhật Bản tăng gấp 5 lần phí visa đối với du khách nước ngoài. Phí visa nhập cảnh một lần tăng lên 15.000 yên (94,62 USD), trong khi visa nhập cảnh nhiều lần có mức phí 30.000 yên.
Zhou, người đang sở hữu visa nhiều lần có thời hạn 3 năm, cho biết một số người bạn của ông không có giấy phép cư trú dài hạn đã quyết định hủy kế hoạch du lịch Nhật Bản sau khi tính toán lại chi phí.
Theo ông, với những người không thường xuyên đi du lịch nước ngoài, việc phải chi hơn 800 nhân dân tệ cho visa nhập cảnh một lần, bao gồm cả phí dịch vụ của các công ty du lịch, khiến chuyến đi không còn hấp dẫn như trước.
Công suất hàng không chưa phục hồi
Sự suy giảm của khách Trung Quốc cũng phản ánh trực tiếp qua mạng lưới hàng không.
Theo dữ liệu của Flight Master, các chuyến bay từ Trung Quốc đại lục chỉ đứng thứ 5 trong nhóm các thị trường hàng không quốc tế lớn nhất của Nhật Bản trong tháng 7/2026, sau Hàn Quốc, Thái Lan, Hồng Kông và Malaysia.
Đáng chú ý, công suất ghế trên các đường bay Trung Quốc - Nhật Bản trong tháng 7 mới phục hồi lên khoảng 46,5% so với mức năm 2019.
Điều này cho thấy sự phục hồi của thị trường khách Trung Quốc vẫn còn rất xa so với thời điểm trước đại dịch.
Nhật Bản vẫn có khả năng bù đắp một phần lượng khách Trung Quốc sụt giảm nhờ các thị trường khác. Tuy nhiên, quy mô và tốc độ suy giảm của dòng khách Trung Quốc khiến tác động đối với ngành du lịch nước này không thể xem nhẹ.
Hiện có nhiều yếu tố cùng lúc tác động đến quyết định của du khách Trung Quốc: cảnh báo du lịch, căng thẳng ngoại giao, số chuyến bay giảm, giá vé tăng, tour theo nhóm thu hẹp và phí visa tăng mạnh.
Nếu những yếu tố này tiếp tục kéo dài, sự phục hồi của thị trường khách Trung Quốc, vốn từng là một trong những nguồn khách quan trọng nhất của Nhật Bản có thể sẽ mất nhiều thời gian hơn.
Việt Nam đón gần 14 triệu khách quốc tế sau 7 tháng
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tháng 7/2026, Việt Nam đón 1,67 triệu lượt khách quốc tế, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng của năm 2026, lượng khách quốc tế đạt 13,9 triệu lượt, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2025, hoàn thành khoảng 56% mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường gửi khách lớn nhất của Việt Nam với khoảng 3,1 triệu lượt, chiếm 22,2% tổng lượng khách quốc tế. Hàn Quốc giữ vị trí thứ hai với 2,4 triệu lượt khách, khẳng định vai trò là một trong những thị trường truyền thống quan trọng và ổn định nhất của du lịch Việt Nam.
Đáng chú ý, Nga là điểm sáng nổi bật khi đạt 864.000 lượt khách, tăng tới 174% so với cùng kỳ năm 2025 và cao gấp hơn hai lần so với năm 2019. Kết quả này giúp Nga duy trì vị trí thị trường nguồn lớn thứ ba của Việt Nam, đồng thời trở thành thị trường lớn nhất của châu Âu.

Về tốc độ tăng trưởng, đáng chú ý châu Âu tiếp tục là điểm sáng với mức tăng bình quân 53,4% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh Nga, nhiều thị trường khác cũng ghi nhận kết quả khả quan như Ba Lan tăng 51,3%, Séc tăng 28,6%, Thụy Điển tăng 24,7% và Thụy Sỹ tăng 21,7%.
Tại châu Á, Philippines tiếp tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng với mức tăng 63,6%. Các thị trường khác cũng ghi nhận kết quả tích cực như Ấn Độ tăng 42,9%, Campuchia tăng 40,8%, Singapore tăng 31,0%, Indonesia tăng 27,3% và Malaysia tăng 21,6%.
Các thị trường đường dài cũng duy trì đà tăng trưởng ổn định. Hoa Kỳ tăng 18,3%, Canada tăng 25,1%, Úc tăng 22,5% và New Zealand tăng 22,4%.