Malaysia tham vọng trở thành trung tâm hàng không vũ trụ
Malaysia đang tăng tốc chiến lược hàng không vũ trụ, hướng tới trở thành trung tâm hàng đầu Đông Nam Á về sản xuất, MRO và xuất khẩu, vào năm 2030.
Trao đổi với Aerospace Global News (AGN) tại Triển lãm Hàng không Quốc tế Farnborough 2026, ông Dato' Abu Bakar Yusof, Giám đốc điều hành Cơ quan Xúc tiến Thương mại Malaysia (MATRADE), cho biết Chính phủ Malaysia đặt mục tiêu lớn cho ngành hàng không vũ trụ và bảo dưỡng, sửa chữa, đại tu tàu bay (MRO).

Malaysia đặt mục tiêu doanh thu 13,4 tỷ USD
Chiến lược dựa trên Kế hoạch tổng thể ngành công nghiệp hàng không vũ trụ Malaysia 2030 (MAIB 2030), hướng tới đưa Malaysia trở thành quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á trong lĩnh vực này, đồng thời nâng vị thế trong chuỗi cung ứng hàng không vũ trụ toàn cầu.
“Chính phủ Malaysia có mục tiêu rất tham vọng đối với sự phát triển của ngành hàng không vũ trụ và MRO tại Malaysia”, ông Abu Bakar nói, đồng thời cho rằng Farnborough là cơ hội để doanh nghiệp trong nước kết nối với các tập đoàn quốc tế.
Ngành hàng không vũ trụ Malaysia đã đạt doanh thu 32,5 tỷ ringgit (7,9 tỷ USD) trong năm 2025, trong đó xuất khẩu đóng góp 7,95 tỷ ringgit (1,93 tỷ USD), tương đương 24,5% tổng doanh thu.
Theo MAIB 2030, Malaysia đặt mục tiêu nâng doanh thu toàn ngành lên 55,2 tỷ ringgit (13,4 tỷ USD) vào năm 2030. Để đạt mục tiêu này, ngành hàng không vũ trụ nước này sẽ phải duy trì tốc độ mở rộng đáng kể trong những năm còn lại.
Trong cơ cấu mục tiêu, MRO được kỳ vọng mang về 20,4 tỷ ringgit (4,96 tỷ USD), sản xuất hàng không vũ trụ đạt 21,2 tỷ ringgit (5,15 tỷ USD), trong khi dịch vụ kỹ thuật và thiết kế đóng góp khoảng 13,6 tỷ ringgit (3,31 tỷ USD).
Chiến lược này cũng hướng tới tạo hơn 32.000 việc làm có thu nhập cao, qua đó thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái công nghiệp hàng không vũ trụ trong nước.
MRO là trụ cột quan trọng
Malaysia đặt nhiều kỳ vọng vào lĩnh vực MRO trong quá trình mở rộng vị thế tại Đông Nam Á.
Nước này đặt mục tiêu chiếm khoảng 5% thị trường MRO toàn cầu và 50% thị trường Đông Nam Á vào năm 2030. Lĩnh vực này còn nhiều dư địa tăng trưởng khi đội tàu bay tại châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục mở rộng, kéo theo nhu cầu bảo dưỡng, sửa chữa ngày càng lớn.
Song song với MRO, Malaysia đang tìm cách tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất hàng không vũ trụ. Các khoản đầu tư mới tập trung vào cấu trúc tàu bay tiên tiến, linh kiện động cơ, công nghệ số trong MRO và dịch vụ kỹ thuật.
Các cụm công nghiệp hàng không vũ trụ tại Selangor, Johor và Penang đang được phát triển nhằm hình thành hệ sinh thái sản xuất, cung ứng.
Malaysia không chỉ đặt mục tiêu mở rộng hoạt động bảo dưỡng mà còn nâng cao năng lực sản xuất linh kiện, kỹ thuật và thiết kế, qua đó tăng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.

Farnborough kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu
Trong chiến lược mở rộng thị trường, Malaysia xem Farnborough 2026 là nền tảng quan trọng để kết nối doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn hàng không vũ trụ quốc tế.
Tại Farnborough 2026, gian hàng Malaysia có 15 doanh nghiệp tham gia, hoạt động trong các lĩnh vực cấu trúc tàu bay, gia công chính xác, hoàn thiện hàng không vũ trụ, điện tử, MRO và dịch vụ hàng không.
MATRADE và Tập đoàn Công nghiệp Hàng không Vũ trụ Quốc gia Malaysia (Naico) tổ chức các cuộc gặp doanh nghiệp, hội thảo và phiên giới thiệu năng lực nhằm thúc đẩy hợp tác với các tập đoàn lớn trong ngành.
“Chúng tôi sẽ tổ chức một số cuộc gặp gỡ kinh doanh cũng như các hội thảo và phiên thuyết trình để họ giới thiệu năng lực của mình”, ông Abu Bakar cho biết.
Theo MATRADE, sau 148 cuộc gặp giữa doanh nghiệp Malaysia và các đối tác quốc tế tại Farnborough 2026, nước này ghi nhận các thỏa thuận và cơ hội xuất khẩu trị giá khoảng 791,54 triệu ringgit (192,36 triệu USD).
Con số này cao hơn mức 635,9 triệu ringgit (154,5 triệu USD) từ 132 cuộc gặp tại Farnborough 2024.
Kết quả cho thấy Malaysia đang mở rộng hiện diện trong chuỗi cung ứng hàng không vũ trụ toàn cầu, trong bối cảnh các nhà sản xuất tàu bay và nhà cung cấp quốc tế tìm kiếm thêm năng lực sản xuất, thiết kế và MRO tại châu Á.
Với mục tiêu doanh thu 55,2 tỷ ringgit vào năm 2030 và tham vọng chiếm một nửa thị trường MRO Đông Nam Á, Malaysia đang dựa vào lợi thế vị trí địa lý, hệ sinh thái công nghiệp và năng lực kỹ thuật để hướng tới vai trò trung tâm hàng không vũ trụ của khu vực.
Việt Nam thúc đẩy kinh tế vũ trụ
Tại Đại hội Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam (VASA) lần thứ V ngày 18/7/2026, Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Lãng, Chủ tịch VASA nhiệm kỳ 2026-2031, nhấn mạnh vũ trụ không còn là khái niệm xa xôi mà đã trở thành một phần của đời sống kinh tế, an ninh, quốc phòng và quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam, thời gian qua đã ghi nhận những bước tiến trong ứng dụng công nghệ vệ tinh, dữ liệu viễn thám phục vụ nông nghiệp, quản lý tài nguyên, dự báo thiên tai và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Hàng không dân dụng cũng tiếp tục phát triển và từng bước hội nhập quốc tế.

Để không bị bỏ lại phía sau, chiến lược hàng không - vũ trụ của Việt Nam cần chú trọng làm chủ công nghệ lõi, tự chủ nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thiết bị bay, các dòng vệ tinh nhỏ có tính ứng dụng cao.
Đồng thời, cần thúc đẩy kinh tế vũ trụ thông qua khai thác dữ liệu không gian như một nguồn tài nguyên số, phục vụ các lĩnh vực trọng điểm như viễn thông, nông nghiệp công nghệ cao và logistics.
Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học trẻ có nền tảng chuyên môn, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào lĩnh vực hàng không - vũ trụ.
Trước đó, tại Diễn đàn Tầm nhìn Vũ trụ Việt Nam - Nhật Bản 2026: Hợp tác cho kỷ nguyên mới và lễ khánh thành Trung tâm Vũ trụ Việt Nam vào tháng 3/2026, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đạt trình độ phát triển khoa học và công nghệ vũ trụ ở mức trung bình khá trong khu vực Đông Nam Á.
Sau năm 2030, Việt Nam hướng tới xây dựng năng lực tự chủ về công nghệ vệ tinh, ứng dụng dữ liệu không gian để giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu và phục vụ an ninh quốc gia.
Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế và chính sách cho hoạt động vũ trụ phù hợp với điều kiện trong nước và thông lệ quốc tế; đồng thời nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn để từng bước hoàn thiện khung pháp lý, tiến tới xây dựng Luật Vũ trụ.
Việt Nam cũng định hướng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ không gian vũ trụ theo tinh thần “3 có”: có sự đóng góp của Nhà nước, doanh nghiệp, các viện, trường và nhà khoa học.
Cùng với đó, Việt Nam thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp, tăng cường hợp tác công - tư, từng bước hình thành thị trường dịch vụ dữ liệu vệ tinh và hệ sinh thái ứng dụng công nghệ vũ trụ.