Chính sách

Bước đi mới nâng hiệu quả khai thác tại các cảng hàng không tại Việt Nam

Thu Hằng 07/07/2026 13:25

Thông tư 52/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng quy định các cảng hàng không khai thác từ 100.000 lượt chuyến bay mỗi năm phải hoàn thành triển khai mô hình A-CDM trong vòng 36 tháng nhằm tối ưu khai thác, giảm ùn tắc và nâng cao hiệu quả điều hành.

Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư số 52/2026/TT-BXD hướng dẫn về cảng hàng không và bãi cất, hạ cánh. Đáng chú ý, thông tư đã dành riêng Mục 6, Điều 49 để quy định cụ thể về việc thiết lập và triển khai mô hình Phối hợp ra quyết định tại cảng hàng không, sân bay (Airport Collaborative Decision Making - A-CDM).

A-CDM là mô hình phối hợp giữa các bên liên quan trong hoạt động khai thác sân bay, bao gồm doanh nghiệp cảng hàng không, hãng hàng không, đơn vị cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, đơn vị phục vụ mặt đất cùng các cơ quan quản lý. Thông qua việc chia sẻ dữ liệu và phối hợp ra quyết định theo thời gian thực, mô hình hướng tới tối ưu hóa khai thác chuyến bay, sử dụng hiệu quả hạ tầng và nguồn lực, đồng thời giảm thời gian chờ, hạn chế ùn tắc và nâng cao chất lượng điều hành tại sân bay.

genh183.jpg
Triển khai mô hình A-CDM tại sân bay Nội Bài.

Theo Thông tư 52/2026/TT-BXD, các cảng hàng không có sản lượng khai thác từ 100.000 lượt chuyến bay trong một năm bắt buộc phải xây dựng và triển khai A-CDM. Trong thời hạn tối đa 36 tháng kể từ thời điểm đạt ngưỡng này, doanh nghiệp khai thác cảng hàng không phải hoàn thành việc xây dựng và đưa mô hình vào vận hành.

Đối với các cảng hàng không có tần suất khai thác dưới 100.000 lượt chuyến mỗi năm, thông tư khuyến khích chủ động xây dựng lộ trình triển khai A-CDM phù hợp với điều kiện và năng lực khai thác thực tế.

Thông tư cũng xác định rõ mục tiêu của A-CDM là tăng khả năng dự báo trong khai thác, tối ưu công tác phối hợp và ra quyết định phục vụ chuyến bay, giảm chi phí hoạt động, khai thác hiệu quả hạ tầng, giảm ùn tắc tại sân đỗ và đường lăn, hạn chế lãng phí slot cũng như nâng cao hiệu quả quản lý luồng không lưu. Bên cạnh đó, mô hình còn giúp các đơn vị linh hoạt hơn trong công tác lập kế hoạch trước chuyến bay và nâng cao tính đồng bộ trong toàn bộ quá trình khai thác.

Đáng chú ý, Thông tư 52/2026/TT-BXD cũng quy định cụ thể trách nhiệm của từng chủ thể tham gia hệ thống A-CDM, bao gồm người khai thác cảng hàng không, người khai thác tàu bay, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, Cảng vụ hàng không, Cục Hàng không Việt Nam cùng các đơn vị liên quan.

Trước đó, Thông tư 29/2021/TT-BGTVT cũng đã đề cập tới mô hình A-CDM, tuy nhiên thông tư mới đã quy định chi tiết hơn về phạm vi áp dụng, quy trình triển khai, thành phần tham gia cũng như trách nhiệm phối hợp của từng cơ quan, đơn vị.

Qua đó, doanh nghiệp khai thác cảng hàng không có cơ sở pháp lý để chủ động xây dựng quy trình điều phối, chuẩn bị hệ thống công nghệ, nguồn nhân lực và cơ chế chia sẻ dữ liệu. Đồng thời, các hãng hàng không, đơn vị phục vụ mặt đất, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay và đơn vị quản lý luồng không lưu cũng có căn cứ để phối hợp, chia sẻ thông tin và thực hiện thống nhất quy trình A-CDM.

Gần đây, Cục Hàng không Việt Nam đã tổ chức Hội nghị sơ kết triển khai mô hình A-CDM giai đoạn 1.

Theo báo cáo tại hội nghị, việc triển khai A-CDM đã phát huy hiệu quả rõ rệt, phù hợp với các tiêu chuẩn và xu hướng phát triển của hàng không quốc tế. Mô hình góp phần tối ưu hạ tầng và nguồn lực khai thác, giảm thời gian lăn của tàu bay, tiết kiệm nhiên liệu và cắt giảm phát thải CO₂.

Cụ thể, tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, thời gian lăn của tàu bay giảm trung bình từ 0,48-0,65 phút mỗi chuyến, qua đó giúp tiết kiệm hơn 3,7 triệu USD chi phí nhiên liệu. Trong khi đó, tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tỷ lệ chuyến bay đúng giờ (OTP) tăng lên 71,47%, đồng thời thời gian lăn ra của tàu bay giảm gần 1,5 phút mỗi chuyến.

Theo Cục Hàng không Việt Nam, những kết quả trên không chỉ nâng cao hiệu quả khai thác mà còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển "Hàng không xanh", giảm tiêu hao nhiên liệu và giảm phát thải trong hoạt động hàng không.

Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng, Trưởng Ban Chỉ đạo tổ chức thực hiện mô hình A-CDM, khẳng định việc mở rộng triển khai A-CDM không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu đối với ngành hàng không trong bối cảnh lưu lượng khai thác ngày càng tăng.

Cục trưởng đánh giá cao sự chủ động của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), đồng thời ghi nhận sự phối hợp tích cực của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, các hãng hàng không và các đơn vị phục vụ mặt đất trong quá trình triển khai giai đoạn đầu.

Đối với giai đoạn tiếp theo, lãnh đạo Cục Hàng không Việt Nam yêu cầu các đơn vị khẩn trương rà soát, khắc phục những tồn tại của giai đoạn 1, hoàn thiện Ban Chỉ đạo và các tổ chuyên môn, đồng thời xây dựng kiến trúc tổng thể và hành lang pháp lý đồng bộ, tham chiếu kinh nghiệm quốc tế để bảo đảm hệ thống A-CDM được triển khai thống nhất, hiệu quả trên toàn mạng cảng hàng không của Việt Nam.

Thu Hằng