Dưới cánh bay

Tỷ phú Johnathan Hạnh Nguyễn: “Hàng không luôn là một phần rất quan trọng trong cuộc đời tôi”

Hải Phong - Diệp Linh - Phi Khanh - Lê Nam 24/06/2026 10:32

3 (1)
3 (1)

Trong cuộc trò chuyện với Tạp chí Hàng không, khi nhắc đến khoảnh khắc trực tiếp trình hồ sơ xin cấp phép đường bay Việt Nam – Philippines lên Tổng thống Philippines vào tháng 9/1985, tỷ phú Johnathan Hạnh Nguyễn vẫn không giấu được niềm xúc động mạnh mẽ. Sau hơn 40 năm nhìn lại, ông khẳng định rằng đó là thời khắc thiêng liêng nhất trong cuộc đời mình.

Cuộc gặp giữa chúng tôi - nhóm PV của Tạp chí Hàng không - với vị tỷ phú nổi tiếng Johnathan Hạnh Nguyễn – diễn ra tại đại bản doanh của Tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPPG) đặt tại tòa nhà số 161 Đồng Khởi (TP.HCM) vào một ngày trung tuần tháng 6.

Ông Hạnh Nguyễn tiếp chúng tôi trong căn phòng có dáng dấp như một Bảo tàng truyền thống của Tập đoàn IPPG, nơi hàng trăm bằng khen, danh hiệu, giấy chứng nhận các loại… được trưng bày và treo kín 4 bức tường. Đó chính là thành quả hơn 40 năm cống hiến không biết mệt mỏi của cá nhân ông Hạnh Nguyễn và IPPG đối với sự phát triển cộng đồng, xã hội và đất nước…

Xuất hiện sau giờ hẹn 10 phút với nụ cười tươi trên môi, ông Hạnh Nguyễn trong trang phục hết sức giản dị, trái ngược hẳn với biệt danh “Vua hàng hiệu” mà ông được ưu ái dành tặng lâu nay. Thực tế, 10 phút trước đó, ông đã có mặt nhưng khi thấy nhóm phóng viên vẫn đang bận rộn chỉnh góc máy, cân bằng sáng, ông đã tinh tế “nhường chỗ” để chúng tôi có thời gian chuẩn bị kỹ càng hơn cho cuộc trò chuyện cùng ông.

Cuộc trò chuyện bắt đầu bằng những ký ức không thể quên hơn 40 năm về trước, khi ông trở thành nhân tố vô cùng đặc biệt của ngành hàng không non trẻ nước nhà, góp phần quan trọng thúc đẩy việc hình thành đường bay quốc tế đầu tiên: Việt Nam - Philippines. Những kỷ niệm đó để lại xúc cảm trong ông mạnh mẽ đến mức nhiều lúc giọng ông nghẹn lại, đôi mắt đỏ hoe như để gắng kìm giữ những giọt nước mắt trực rớt xuống.

jhn.jpg
Tỷ phú Johnathan Hạnh Nguyễn. Ảnh: NVCC

Cần nhớ lại là vào thời điểm đó, Đại sứ quán Việt Nam tại Manila đã làm việc với đầy đủ 12 cơ quan chức năng, bộ ngành liên quan của Chính phủ Philippines. Hồ sơ xin mở đường bay đã được gửi qua nhiều cấp, từ các cơ quan chuyên môn đến Văn phòng Tổng thống. Tuy nhiên, tất cả đều rơi vào im lặng…

Tình hình chính trị và đối ngoại khi ấy cũng rất nhạy cảm. Philippines là đồng minh quan trọng của Mỹ tại Đông Nam Á, trong khi Việt Nam vẫn phải chịu lệnh cấm vận từ Mỹ (lệnh cấm vận thương mại với Việt Nam được bãi bỏ hoàn toàn vào tháng 02/1994 - NV). Vì vậy, bất kỳ quyết định nào liên quan đến việc mở đường bay quốc tế với Việt Nam khi đó đều mang ý nghĩa chính trị đặc biệt.

Khi hồ sơ xin mở đường bay của phía Việt Nam đã chuẩn bị xong, ông Hạnh Nguyễn lần lượt tìm gặp những người có thể giúp chuyển hồ sơ vào bàn làm việc của Tổng thống. Nhưng tất cả đều nói với ông rằng vấn đề này đã được trình lên nhiều lần và đích thân Tổng thống đã chỉ đạo không tiếp tục đưa hồ sơ lên nữa. Họ chỉ nói thêm: "Nếu muốn, anh phải tự vào trình".

Cuộc trò chuyện cởi mở, thú vị giữa nhóm Phóng viên của Tạp chí Hàng không và tỷ phú Johnathan Hạnh Nguyễn. Video clip: Phi Khanh - Lê Nam
2-1.jpg

Nhưng để có cơ hội tiếp cận trực tiếp với Tổng thống Philippines khi đó không phải là điều dễ dàng, thưa ông?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Đúng vậy. Phải thú thực, tôi rất may mắn khi là người có mối quan hệ gia đình gần gũi với Hoàng gia Philippines. Tuy nhiên, ngay cả điều đó cũng không đồng nghĩa với việc bạn có thể tác động đến quyết định của ngài Tổng thống.

Trước ngày gặp định mệnh đó, tôi đã tìm mọi cách để nắm được lịch trình làm việc và tâm trạng của Tổng thống Marcos. Tôi nhờ người thân là bà Leita - Trợ lý Tổng thống (một người họ hàng của vợ cũ ông Hạnh Nguyễn là bà Tina. Bà Tina tên thật là Cristina Serrano, cháu của cựu Đệ nhất phu nhân Philippines Imeda Marcos - NV) để nhờ bà lựa giúp thời điểm phù hợp nhất, bởi nếu chọn sai thời điểm thì mọi nỗ lực có thể đổ sông đổ bể.

Và rồi, khoảnh khắc đó đã đến khi bà Leita báo cho tôi, chiều tối ngày 4/9/1985, tâm trạng của Tổng thống lúc đó đang rất tốt. Đó là thời khắc tôi không bao giờ quên. Tôi cầm bộ hồ sơ trên tay và đứng trước cánh cửa phòng làm việc của Tổng thống Marcos. Một sĩ quan cận vệ mở cửa và mỉm cười chào khi thấy người quen.

Khi bước vào, chân tay tôi run lên. Tôi đã trải qua nhiều cuộc đàm phán trong đời, nhưng chưa bao giờ cảm thấy áp lực như lúc đó. Trong đầu tôi chỉ có một suy nghĩ: "Hoặc thành công, hoặc mọi chuyện kết thúc tại đây".

Trước thời điểm bước vào Dinh Tổng thống Philippines tối đó, ông đánh giá khả năng thành công của mình như thế nào, thưa ông?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Nếu nói thật lòng thì với tôi, tỷ lệ thành công chỉ 1%. Tôi hiểu rất rõ quy trình hành chính của một quốc gia. Không phải cứ gặp được Tổng thống là có thể thuyết phục được ngay. Trước khi một văn bản được trình lên nguyên thủ quốc gia, nó đã phải đi qua rất nhiều tầng nấc tham mưu và thẩm định. Nếu các cơ quan chuyên môn không đồng thuận thì cơ hội gần như bằng không. Bởi vậy, khi nhận nhiệm vụ, tôi biết đây thực sự là một việc cực kỳ khó khăn…

Khi tôi vào phòng, Tổng thống Marcos đang ngồi làm việc phía sau bàn. Tay trái ông chống lên bàn để đỡ đầu và chăm chú đọc tài liệu. Tôi lặng lẽ tiến lại gần bàn làm việc của ông. Từng bước một, chậm đến mức tôi có thể nghe rõ nhịp tim và sự run rẩy của mình.

01.jpg
Lễ đón chuyến bay đầu tiên tại sân bay Manila - Philippines ngày 9/9/1985. Ông Phan Tương và Đại tá Lưu Đình Vệ mừng rỡ gặp nhau. Ảnh: NVCC

Khi đến sát bàn làm việc, tôi nhẹ nhàng đặt tập hồ sơ xuống bàn, bên cạnh Tổng thống. Tôi gần như nín thở. Tôi không biết ông có nhận ra người đứng trước mặt là ai hay không. Mọi thứ diễn ra rất nhanh, chỉ trong vài giây. Bất ngờ, Tổng thống Marcos cầm cây bút lên, ông mở tập hồ sơ tôi vừa đặt xuống, liếc nhanh qua rồi viết một chữ “Approve” (Thông qua) sau đó ký tên. Tôi đứng sững vì không tin điều mình vừa nhìn thấy là sự thật. Tim tôi như chậm đi cả vài nhịp...

Khi cầm văn bản đã được ký duyệt, tôi lập tức quay người bước nhanh ra cửa. Trong đầu tôi lúc ấy chỉ có một suy nghĩ: "Phải mang được hồ sơ này ra khỏi phòng càng nhanh càng tốt" vì lo rằng nếu Tổng thống thay đổi quyết định, mọi thứ có thể đảo ngược.

Khi gần ra tới cửa, bất ngờ bà Leita gọi giật lại: "Johnathan, quay lại đây đã. Vẫn chưa xong đâu". Tôi giật mình, tưởng rằng có chuyện gì xảy ra, nhưng hóa ra bà gọi là vì thủ tục vẫn chưa hoàn tất. Chữ ký của Tổng thống mới chỉ là bước đầu. Hồ sơ còn phải được Văn phòng Tổng thống hoàn thiện và đóng dấu chính thức mới có hiệu lực pháp lý…

Người đầu tiên ông chia sẻ giây phút quan trọng này là ai, thưa ông?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Sau khi hoàn tất các thủ tục, tôi cầm văn bản được phê duyệt chạy ra ngoài gặp anh Trần Tiến Vinh (Đại biện lâm thời của Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines) đang chờ bên ngoài. Tôi chỉ nói: "Xong rồi". Anh Vinh ôm chầm lấy tôi, hai anh em đều rơi nước mắt.

Đối với người ngoài, đó có thể chỉ là một văn bản hành chính. Nhưng đối với chúng tôi lúc ấy, đó là cánh cửa đầu tiên giúp Việt Nam từng bước kết nối với thế giới trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Lúc biết tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, anh Vinh ôm tôi khóc: "Hạnh ơi, hôm nay em là anh hùng của dân tộc", rồi lập tức điện báo về Hà Nội.

Sau này, nhiều người kể với tôi, buổi tối hôm đó tại Hà Nội, nhiều vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị đều chờ "tin tốt lành" từ Manila và tất cả đều thở phào nhẹ nhõm khi nhiệm vụ cuối cùng đã thành công.

1-1 (2)

Cho đến hôm nay, tôi vẫn coi đó là thời khắc thiêng liêng nhất cuộc đời mình. Không phải vì đó là thành công của cá nhân tôi mà bởi tôi cảm nhận được rằng, bằng một cách nào đó, mình đã góp phần hoàn thành nhiệm vụ mà đất nước giao phó trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt đối với ngành hàng không.

2-2.jpg

Thưa ông, vậy điều gì đã thôi thúc ông nhận lời thực hiện một nhiệm vụ mà chính ông coi là “bất khả thi”?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Thực ra, lần đầu tiên tôi trở về Việt Nam không phải để nhận nhiệm vụ gì cả. Khi đó, đại diện Việt Nam tại Liên Hợp Quốc và một số cán bộ ngoại giao chỉ mời tôi về thăm quê hương, thăm gia đình sau nhiều năm xa cách. Chuyến trở về ấy đã trở thành một dấu mốc rất đặc biệt trong cuộc đời tôi.

Sau khi về nước, tôi đưa hai con trai là Henry và Louis về Nha Trang thăm quê. Nhưng vừa xuống sân bay cả hai cháu đều sốt rất cao. Thời điểm đó, dịch bệnh ở trẻ em đang diễn biến nghiêm trọng, điều kiện y tế trong nước còn vô cùng thiếu thốn.

Tôi vẫn nhớ như in lời một bác sĩ quen lúc bấy giờ: "Anh Hạnh ơi, sao anh lại đưa các cháu về lúc này? Rất nhiều trẻ em đã mất vì dịch bệnh rồi”. Nghe câu nói đó, tôi thực sự bàng hoàng. Hai con tôi sốt hơn 40 độ. Tôi và bà Tina vợ tôi thay nhau thức trắng đêm chăm sóc các con. Nhưng điều khiến tôi day dứt nhất không phải là nỗi lo cho gia đình mình. Đêm hôm đó, từ phòng bệnh bên cạnh vang lên tiếng khóc thét của một người mẹ: "Anh ơi, con chết rồi!" Tiếng kêu ấy đến tận bây giờ tôi vẫn không quên.

Sáng hôm sau, rất may các con tôi bắt đầu hạ sốt. Vợ tôi lập tức đưa các cháu trở lại Philippines vì quá lo lắng. Là một người cha, tôi hoàn toàn hiểu được nỗi lo ấy. Nhưng chính những gì tôi chứng kiến trong bệnh viện đã khiến tôi không thể quay lưng. Tôi nghĩ đến rất nhiều trẻ em Việt Nam lúc đó. Con mình chỉ trải qua vài ngày bệnh tật mà mình đã đau lòng như vậy, còn những gia đình đang mất con sẽ đau đớn đến mức nào? Và tôi đã quyết định ở lại. Sau đó, anh Trần Tiến Vinh đến gặp và nói với tôi rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng (khi đó là Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng - NV) muốn gặp tôi.

30.jpg
Ông Rudy Martell và ông Johnathan Hạnh Nguyễn chụp ảnh cùng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Phạm Văn Đồng. Ảnh: NVCC

Trong cuộc gặp đó, Thủ tướng không nói nhiều về chính trị hay ngoại giao. Ông nói về đất nước, ông nói về những khó khăn mà Việt Nam đang phải đối mặt trong thời kỳ cấm vận. Ông cũng chỉ nói rất ngắn gọn với tôi rằng: "Việt Nam rất cần con!".

Rồi ông phân tích, nếu không mở được đường bay quốc tế, đất nước sẽ không thể kết nối với bên ngoài. Hàng hóa, vật tư, máy móc, nguyên liệu đều rất khó vào Việt Nam. Chúng ta phải tìm cách mở cánh cửa ấy. Ông nói về những khó khăn của nền kinh tế khi ấy, từ thiếu lương thực, thiếu vật tư sản xuất đến tình trạng lưu thông hàng hóa bị hạn chế. Tôi cảm nhận được nỗi trăn trở rất lớn của người đứng đầu Chính phủ lúc bấy giờ…

1-2 (2)

Chắc hẳn lúc đó ông đã rất khó khăn để đưa ra quyết định của mình?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Thành thật mà nói, thời điểm đó tôi hoàn toàn có thể lựa chọn một cuộc sống khác. Tôi đang có công việc ổn định ở nước ngoài, gia đình đầy đủ, điều kiện kinh tế rất tốt. Vợ con đều ở Philippines và Mỹ. Tương lai của các con đã được đảm bảo.

Nhưng mỗi khi nghĩ đến cảnh tượng mà tôi gặp trong bệnh viện ở Nha Trang và tiếng khóc của người mẹ mất con, tôi thấy mình không thể làm ngơ. Khi trở về Philippines, ba đứa con tôi ngồi chờ ngay cửa nhà. Các cháu ôm tôi và nói: "Ba ơi ba đừng đi nữa, ba ở với tụi con đi". Là một người cha, đó là khoảnh khắc vô cùng khó khăn. Tôi nhớ mình đã nói với các con: "Ba phải quay lại Việt Nam. Ở đó còn rất nhiều em bé giống như các con đang cần được giúp đỡ". Đó có lẽ là một trong những quyết định khó khăn nhất cuộc đời tôi.

Sau đó, tôi có thêm một cuộc gặp riêng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ hình ảnh ông nắm chặt tay tôi. Ông nói: "Bác giao nhiệm vụ này cho con". Rồi ông nhấn mạnh: "Nếu mở được đường bay, chúng ta sẽ có cơ hội phá thế cô lập, từng bước thoát khỏi vòng cấm vận". Tôi hiểu rất rõ mức độ khó khăn của nhiệm vụ đó.

Khi ấy, hồ sơ xin phép mở đường bay đã bị từ chối nhiều lần. Tôi không dám hứa với Thủ tướng là mình sẽ thành công. Tôi chỉ có thể trả lời: "Con sẽ cố gắng hết sức”.

Sau này khi nhìn lại để đánh giá, tôi cho rằng thành công đến từ các yếu tố “thiên thời – địa lợi – nhân hòa”. Lúc đó xuất hiện một thời cơ đặc biệt về chính trị, tình hình nội bộ Philippines có nhiều thay đổi, trong khi sự ủng hộ của Mỹ đối với chính quyền Tổng thống Marcos cũng không còn như trước. Các vị lãnh đạo Việt Nam đã nhìn thấy cơ hội đó và ngay lập tức nắm lấy.

Nói cách khác, đó là sự kết hợp giữa quyết tâm của Việt Nam, sự nhạy bén trong đánh giá tình hình quốc tế và một thời điểm lịch sử thuận lợi. Nếu bỏ lỡ thời cơ ấy, có thể chúng ta đã phải chờ thêm rất nhiều năm nữa.

2-3.jpg

Lấy được giấy phép bay, theo chúng tôi biết, mới chỉ là khởi đầu của một hành trình vô cùng gian nan để duy trì đường bay Việt Nam – Philippines sau đó?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Nhiều người nghĩ rằng lấy được giấy phép bay là hoàn thành nhiệm vụ, nhưng thực tế đó mới chỉ là bước khởi đầu. Điều khó khăn hơn rất nhiều là làm thế nào để duy trì được đường bay trong điều kiện gần như không có khách.

Thời điểm đó, cứ vài ngày tôi lại phải tổ chức một chuyến bay để giữ tần suất hoạt động của đường bay. Máy bay không thể nằm chờ riêng mình được. Nếu không duy trì đều đặn, toàn bộ công sức vận động mở đường bay có thể tan thành mây gió.

Tôi phải trực tiếp thuê máy bay của Philippines Airlines với chi phí khoảng 32.000 USD cho mỗi chuyến bay. Đồng thời, phía Vietnam Airlines lúc đó cũng phải thực hiện rất nhiều thủ tục xin phép cho từng chuyến. Nhưng các chuyến bay gần như không có hành khách. Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cấm vận, việc đi lại giao thương với quốc tế vô cùng khó khăn. Ngay cả cán bộ cấp cao muốn xuất cảnh cũng phải trải qua quy trình xét duyệt kéo dài. Còn người dân gần như không có điều kiện.

Để duy trì hoạt động, tôi buộc phải chuyển sang thực hiện các chuyến bay vận chuyển hàng hóa (cargo). Không có đủ khoang hàng thì chất hàng lên ghế hành khách, chất cả dưới bụng máy bay. Mục tiêu lúc đó không phải là lợi nhuận mà là giữ cho đường bay tồn tại.

11.jpg
Chuyến bay Boeing 707 đầu tiên của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam lăn bánh trên đường băng sân bay Manila, Philipines ngày 9/9/1985. Ảnh: NVCC

Tuy nhiên, thị trường lúc đó lại vô cùng khắc nghiệt. Các tuyến bay qua Thái Lan, Liên Xô và Trung Quốc đã hoạt động ổn định từ trước. Giá cước vận chuyển bị kéo xuống rất thấp. Muốn cạnh tranh thì phải giảm giá, mà càng giảm thì càng lỗ. Có những chuyến bay lỗ hàng chục nghìn USD. Càng bay càng lỗ nhưng vẫn phải bay. Nếu dừng lại thì coi như tất cả những nỗ lực mở cửa hàng không trước đó sẽ đổ vỡ.

Ông từng nhắc đến khoản lỗ 5 triệu USD…?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Đó là số tiền tôi phải bỏ ra để giữ tuyến bay trong khoảng 3 năm - khoảng 5 triệu USD. Phải hiểu rằng thời điểm cuối thập niên 1980, giá trị của đồng tiền hoàn toàn khác bây giờ. Khi đó một căn nhà mặt tiền đẹp ở trung tâm TP.HCM chỉ có giá chục nghìn USD. Cho nên 5 triệu USD lúc ấy là một tài sản rất lớn. Nhưng tôi xác định đây không phải câu chuyện kinh doanh thông thường. Nếu chỉ nhìn dưới góc độ lợi nhuận thì chắc chắn không ai làm.

Khi nhiều người hỏi tiền đâu để duy trì đường bay trong suốt thời gian dài như vậy, tôi thường nói vui rằng đó là tiền của vợ tôi, mà thực tế đúng là như vậy. Bà Tina là người đã âm thầm ủng hộ tôi trong suốt giai đoạn khó khăn nhất. Thuê máy bay phải thanh toán trước. Trong khi doanh thu từ hàng hóa nhiều khi chỉ được vài nghìn USD, không đủ bù nổi chi phí vận hành. Có lúc tôi nói thật với bà Tina rằng nếu cứ tiếp tục như thế này thì rất khó duy trì lâu dài.

Nhưng bà luôn động viên "Ông cứ lo việc lớn cho đất nước. Cần tiền thì tôi hỗ trợ". Tôi luôn ghi nhận sự hy sinh to lớn đó của bà Tina. Nếu không có sự đồng hành của bà, rất khó để tôi theo đuổi hành trình ấy đến cùng. Đó là những tình cảm và sự tin tưởng mà tôi luôn ghi nhớ suốt cuộc đời mình.

Sau khoảng 3 năm duy trì đường bay, tình hình tài chính ngày càng áp lực. Khoản lỗ liên tục tăng lên khiến nhiều người lo ngại ông Hạnh Nguyễn sẽ từ bỏ và quay trở lại nước ngoài. Chính trong bối cảnh đó, ông Johnathan Hạnh Nguyễn được mời gặp riêng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và ở đây, Tổng Bí thư đã nói với ông một câu làm ông không bao giờ quên.

29.jpg
Ông Johnathan Hạnh Nguyễn chụp hình cùng với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Văn phòng Trung ương Đảng năm 1987. Ảnh: NVCC

Hẳn ông còn nhớ rõ cuộc gặp với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vào thời điểm cách đây gần 40 năm?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Tôi vẫn nhớ rất rõ cuộc gặp ấy. Cuộc gặp ngắn thôi, sau khi nghe tôi báo cáo tình hình về đường bay, Tổng Bí thư nắm tay tôi và nói một câu mà tôi nhớ mãi tới tận bây giờ: “Con đừng buông nhé”.

Chỉ một câu thôi. Nhưng tôi hiểu tất cả những điều ông muốn gửi gắm. Ông biết những khó khăn mà tôi đang phải đối mặt. Ông biết tuyến bay đang thua lỗ nặng. Ông cũng hiểu rằng nếu tôi rút lui thì rất có thể tuyến hàng không quốc tế đầu tiên của Việt Nam sẽ không thể duy trì. Câu nói ấy đã trở thành động lực rất lớn đối với tôi.

Nếu Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người giao cho tôi nhiệm vụ “mở cánh cửa đầu tiên ra quốc tế” thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh chính là người động viên tôi giữ cho cánh cửa ấy luôn rộng mở.

Sau đó, tuyến bay này được chuyển giao lại cho Vietnam Airlines khi Hiệp định hàng không với Philippines được ký kết. Với 5 triệu USD thua lỗ, tôi coi đó là số tiền mình bỏ ra để xây dựng nền móng kinh doanh ở Việt Nam.

1-3 (1)

Nhìn lại sau 40 năm Đổi mới, tôi càng hiểu vì sao các đồng chí lãnh đạo lúc đó lại quan tâm đến tuyến bay Việt Nam – Philippines như vậy. Đó không đơn thuần là một đường bay thương mại. Đó là tuyến kết nối đầu tiên giúp Việt Nam từng bước phá thế cô lập, mở rộng giao thương quốc tế và tạo tiền đề cho tiến trình hội nhập sau này.

Vì thế, dù đã trải qua rất nhiều khó khăn, tôi chưa bao giờ hối tiếc về quyết định của mình. Được góp một phần nhỏ bé vào giai đoạn lịch sử ấy là niềm tự hào lớn nhất trong cuộc đời tôi.

2-4.jpg

Nhiều người yêu mến, ưu ái gọi ông là “Vua hàng không” và sau này “Vua hàng hiệu”. Ông cảm thấy thế nào khi được định danh như vậy?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Danh xưng "Vua hàng không" có là bởi như đã kể, vào thời điểm những năm 80 của thế kỷ trước, tôi dành rất nhiều tâm huyết cho việc mở và duy trì đường bay quốc tế. Sau này, khi đưa các thương hiệu cao cấp quốc tế vào Việt Nam, báo chí và đối tác quốc tế lại gọi tôi là "Vua hàng hiệu" hay "King of Luxury".

Thực ra, tôi chưa bao giờ tự nhận mình là "vua" của lĩnh vực nào cả. Những cách gọi đó đều xuất phát từ báo chí và các đối tác. Điều khiến tôi tự hào không phải là danh xưng, mà là sự tin tưởng của các thương hiệu quốc tế. Họ không lựa chọn đối tác chỉ vì người đó giàu có hay có vị thế. Điều họ coi trọng nhất là uy tín, sự minh bạch và khả năng thực hiện cam kết.

Để có được 138 thương hiệu quốc tế hợp tác với IPPG, không phải là chuyện một sớm một chiều. Đó là kết quả của hàng chục năm xây dựng niềm tin. Trong kinh doanh quốc tế, chữ tín quan trọng hơn mọi thứ khác.

Ở nhiều quốc gia phát triển, sân bay không chỉ là đầu mối giao thông mà còn là một trung tâm kinh tế và thương mại quan trọng. Theo ông, hàng không Việt Nam cần làm gì để hòa nhập vào xu hướng này?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Tôi cho rằng đây là một trong những vấn đề quan trọng đối với tương lai ngành hàng không Việt Nam. Tôi nhận thấy Việt Nam vẫn đang trong quá trình tìm kiếm mô hình phát triển tối ưu cho hệ sinh thái kinh tế sân bay.

20180626-cam-ranh-airport-architecture-0373-58160924337515149562115-45715740859516620646495-1774225406337-17742254069561011461966.jpg
Sân bay Quốc tế Cam Ranh là sân bay quốc tế sôi động thứ tư tại Việt Nam, đây là sân bay do ông Johnathan Hạnh Nguyễn làm Chủ tịch HĐQT. Ảnh: NVCC

Trong nhiều năm qua, tôi đã chủ động kết nối nhiều nhà đầu tư, doanh nhân và đối tác quốc tế đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội hợp tác. Nhiều người trong số họ đang giữ những vị trí rất quan trọng trong chính phủ và giới doanh nghiệp toàn cầu.

Điều tôi luôn mong muốn là có cơ hội tiếp tục đóng góp kinh nghiệm của mình cho các dự án hạ tầng hàng không chiến lược, đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Tôi cho rằng việc quy hoạch mặt bằng thương mại cần được thực hiện theo hướng chuyên nghiệp, tạo điều kiện để các thương hiệu lớn tham gia đầu tư dài hạn. Khi một thương hiệu quốc tế mở cửa hàng tại sân bay, họ không chỉ mang đến hàng hóa mà còn mang theo uy tín, tiêu chuẩn vận hành và nguồn lực đầu tư rất lớn.

Từ kinh nghiệm tham gia phát triển hệ thống dịch vụ tại sân bay Cam Ranh, tôi tin rằng Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng những sân bay đạt chuẩn quốc tế, không chỉ về hạ tầng mà còn về chất lượng dịch vụ và trải nghiệm thương mại.

Vì sao ông cho rằng việc phát triển dịch vụ hàng không gắn với các thương hiệu quốc tế lại là vấn đề quan trọng, cấp thiết hiện nay ở các cảng hàng không Việt Nam?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Sân bay không chỉ là nơi vận chuyển hành khách mà còn là bộ mặt, cửa ngõ đầu tiên của một quốc gia khi các du khách quốc tế đặt chân tới quốc gia đó. Vì vậy, hình ảnh của sân bay phần nào phản ánh sự phát triển của quốc gia đó.

Một sân bay quốc tế hiện đại không thể thiếu sự hiện diện của các thương hiệu quốc tế lớn. Khi hành khách quốc tế đặt chân xuống sân bay, điều họ nhìn thấy đầu tiên chính là mức độ hội nhập và đẳng cấp của nền kinh tế nước sở tại.

17.jpeg
Ông Johnathan Hạnh Nguyễn chụp hình kỷ niệm tại bàn làm việc của cựu Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos. Ảnh: NVCC

Những thương hiệu mang tầm quốc tế như Chanel, Dior, Cartier, Burberry… hay nhiều thương hiệu cao cấp khác hiện diện ở sân bay không chỉ đơn thuần là hoạt động kinh doanh bán lẻ. Mỗi cửa hàng là một khoản đầu tư hàng triệu USD, nó góp phần nâng cao hình ảnh và giá trị thương mại của sân bay.

Tôi đã nhiều lần khuyến nghị với lãnh đạo ngành hàng không rằng, nếu không có tầm nhìn phù hợp, các dự án sân bay lớn như sân bay Long Thành sẽ khó phát huy hết tiềm năng sẵn có. Một sân bay quốc tế cần được xây dựng theo chuẩn quốc tế từ hạ tầng đến hệ sinh thái dịch vụ. Nếu thiếu sự góp mặt của các thương hiệu lớn, thiếu sự đầu tư bài bản ngay từ đầu, chúng ta rất khó cạnh tranh với các trung tâm hàng không trong khu vực như Singapore, Thái Lan hay Nhật Bản…

IPPG đang hợp tác với 138 thương hiệu quốc tế và vận hành mạng lưới hơn 1.000 cửa hàng trên cả nước. Với kinh nghiệm đó, tôi mong muốn tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của Long Thành nếu có cơ hội phù hợp. Tôi tin rằng điều quan trọng nhất không phải là ai tham gia, mà là làm thế nào để sân bay Long Thành đạt được vị thế xứng đáng của một trung tâm hàng không quốc tế hàng đầu khu vực.

1-4 (3)

Vậy đâu là yếu tố quyết định để các sân bay Việt Nam có thể vươn mình trở thành những Trung tâm hàng không mang đẳng cấp quốc tế, thưa ông?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Điều quan trọng nhất là phải có một quy hoạch đồng bộ và tầm nhìn dài hạn. Trong lĩnh vực bán lẻ hàng không, các thương hiệu quốc tế không chỉ quan tâm đến diện tích mặt bằng hay chi phí thuê. Họ đặc biệt coi trọng tổng thể không gian thương mại, sự đồng bộ về hình ảnh và vị thế của các thương hiệu cùng hiện diện trong khu vực.

Bên cạnh đó, những thương hiệu thời trang quốc tế như Chanel, Dior, Hermès, Cartier hay Burberry… đều có những tiêu chuẩn rất khắt khe. Họ không muốn xuất hiện trong một môi trường thiếu tính quy hoạch hoặc bị pha trộn với những mô hình kinh doanh không phù hợp với định vị thương hiệu.

dsc07023.jpg
Một góc nhỏ lưu giữ những phần thưởng, danh hiệu và sự ghi nhận dành cho ông Hạnh Nguyễn cùng Tập đoàn IPPG sau hơn 40 năm bền bỉ cống hiến, đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng, xã hội và đất nước. Ảnh: Lê Nam

Vì vậy, nếu muốn xây dựng một sân bay đạt chuẩn quốc tế, cần có một chiến lược tổng thể ngay từ đầu, từ thiết kế mặt bằng, phân khu chức năng đến cơ cấu thương hiệu. Không thể làm theo cách manh mún, chia nhỏ từng phần mà thiếu một định hướng chung. Một sân bay quốc tế năm sao phải được xây dựng theo tiêu chuẩn năm sao ngay từ tư duy quy hoạch.

Tôi luôn cho rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng xây dựng những trung tâm hàng không ngang tầm khu vực. Chúng ta có vị trí địa lý thuận lợi, có tốc độ tăng trưởng du lịch cao và có tiềm năng trở thành trung tâm trung chuyển quan trọng tại Đông Nam Á. Tuy nhiên, để hiện thực hóa điều đó, cần phải mạnh dạn tiếp cận các mô hình đã thành công trên thế giới.

Thưa ông, Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị vừa được ban hành đã khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế. Là một doanh nhân đã gắn bó với quá trình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam trong nhiều thập kỷ, ông đón nhận cơ hội này như thế nào?

Trước khi trả lời câu hỏi của chúng tôi, ông Hạnh Nguyễn chỉ vào cả trăm xấp tài liệu được photo đóng quyển cẩn thận, trải kín trên mặt bàn rộng hàng chục mét ở giữa căn phòng. Ông nói đây đều là những đề án, dự án kinh tế đầy tâm huyết của IPPG và của ông, với tâm nguyện muốn đất nước vươn mình, cất cánh không chỉ trong khu vực mà cả trên thế giới.

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Tôi cho rằng Nghị quyết 68 là một tín hiệu rất tích cực, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước.

dsc07349.jpg
Hàng trăm xấp tài liệu, dự án được photo đóng quyển cẩn thận, trải kín trên mặt bàn rộng hàng chục mét ở giữa căn phòng, đều là tâm huyết của ông Johnathan Hạnh Nguyễn muốn đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Ảnh: Lê Nam

Thực tế, trong nhiều năm qua, tôi và các cộng sự đã chuẩn bị rất nhiều đề án liên quan đến hạ tầng thương mại, trung tâm tài chính, trung tâm mua sắm, mô hình Factory Outlet và các tổ hợp dịch vụ quy mô lớn gắn với hệ sinh thái hàng không. Mỗi đề án đều được nghiên cứu bài bản bởi các đơn vị tư vấn quốc tế hàng đầu, với chi phí đầu tư cho công tác nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình lên tới hàng triệu USD.

Đến nay, tổng kinh phí dành cho việc chuẩn bị các dự án này đã lên tới khoảng 20 triệu USD. Đây không chỉ là những bộ hồ sơ trên giấy mà là tâm huyết, kinh nghiệm và tầm nhìn được tích lũy qua nhiều thập kỷ làm việc trong môi trường quốc tế.

Tôi đã theo đuổi những ý tưởng này từ năm 2016 đến nay và vẫn mong muốn có cơ hội được đóng góp vào các công trình mang tính biểu tượng của ngành hàng không Việt Nam.

Sau 40 năm gắn bó và trải qua nhiều ngành nghề, dường như ông vẫn còn rất nhiều tâm huyết với ngành hàng không?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Đúng vậy. Tôi luôn xem hàng không là một phần rất quan trọng trong cuộc đời mình. Từ những ngày đầu tham gia mở đường bay quốc tế cho Việt Nam đến nay đã gần 40 năm, tôi vẫn theo dõi sát sự phát triển của ngành và luôn mong muốn tiếp tục được đóng góp bằng kinh nghiệm, các mối quan hệ quốc tế và những nguồn lực mà mình đã tích lũy được.

Điều tôi quan tâm không phải là lợi ích riêng của doanh nghiệp, mà là làm thế nào để ngành hàng không Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng của đất nước. Tôi tin rằng Việt Nam đang đứng trước một cơ hội rất lớn. Nếu biết tận dụng tốt các nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn lực từ khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng những công trình và mô hình phát triển mang tầm quốc tế.

Đó cũng là điều mà tôi luôn mong muốn được đồng hành và đóng góp trong chặng đường phía trước. Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ngài Tổng thống Ferdinand Marcos Sr. (cha) và Ngài Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. (con), trên cơ sở quan hệ hữu nghị tốt đẹp và lợi ích đã được Chính phủ và Nhân dân hai nước ghi nhận, nâng tầm quan hệ song phương Việt Nam - Philippines lên mức Đối tác Chiến lược tăng cường.

2-5.jpg

Ông từng nói: “Muốn mở được cánh cửa thì trước hết phải tìm đúng chìa khóa, mà chìa khóa lớn nhất chính là sự chân thành và kiên trì”. Ngoài hai yếu tố đó, đâu là triết lý sống và triết lý kinh doanh đã giúp ông thành công?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Đó chính là tình yêu nước. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tôi luôn đặt lòng yêu nước lên hàng đầu. Nếu không có tình yêu đất nước, tôi đã không từ bỏ cuộc sống ổn định tại Mỹ và Philippines để trở về Việt Nam trong những năm tháng khó khăn nhất. Khi đó tôi có công việc tốt, thu nhập ổn định, gia đình đầy đủ. Không ai bắt buộc tôi phải quay về. Nhưng tôi tin rằng mỗi người Việt Nam đều có trách nhiệm đóng góp cho đất nước theo cách của mình.

Tất cả những gì tôi làm, từ mở đường bay quốc tế cho đến đưa 138 thương hiệu hàng đầu thế giới vào Việt Nam, đều xuất phát từ mong muốn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Bên cạnh lòng yêu nước, tôi luôn tâm niệm các nguyên tắc sau trong cuộc sống và kinh doanh: Thứ nhất, thượng tôn pháp luật. Thứ hai là luôn giữ chữ tín với đối tác và khách hàng.

Trong kinh doanh quốc tế, các chứng nhận, thư ghi nhận hay sự công nhận từ đối tác có giá trị rất lớn. Đó không chỉ là sự ghi nhận mà còn là một dạng "bảo chứng" về uy tín. Các tập đoàn hàng đầu thế giới không lựa chọn đối tác dựa trên những lời giới thiệu hay danh tiếng nhất thời. Họ đánh giá bằng quá trình hợp tác lâu dài, bằng mức độ minh bạch và khả năng thực hiện cam kết.

Tôi luôn tin rằng nếu kiên trì theo đuổi mục tiêu đủ lâu, kết quả sẽ chứng minh tất cả. Có những việc không thể hoàn thành trong 10 năm, 20 năm, nhưng có thể thực hiện được trong 40 năm. Điều quan trọng là đã nói thì phải làm.

Trong suốt những năm tháng qua, tôi luôn theo đuổi những nguyên tắc đó. Và hôm nay, những gì đạt được chính là minh chứng rõ nhất cho con đường mà tôi đã lựa chọn, nhiều thương hiệu quốc tế hàng đầu vẫn tiếp tục đặt niềm tin vào mình sau hàng chục năm hợp tác. Đó là thành quả của việc giữ chữ tín và luôn thực hiện đúng những gì đã cam kết.

Một ngày bình thường của ông như thế nào? Trong một gia đình có quá nhiều người nổi tiếng, trai tài gái sắc, triết lý của ông để giữ cho gia đình luôn thuận hòa, yên ấm là gì, thưa ông?

- Ông Johnathan Hạnh Nguyễn: Mỗi ngày thường bắt đầu khá nhẹ nhàng. Tôi đi ngủ khoảng 22 giờ và thức dậy vào khoảng 8 giờ sáng để đảm bảo sức khỏe. Tuy nhiên, có những thời điểm công việc nhiều hoặc xuất hiện những thông tin tiêu cực, có lúc khiến mình phải suy nghĩ, buồn lòng. Nhưng rồi lại phải tự nhắc bản thân rằng điều quan trọng nhất là sống đúng, làm đúng và tiếp tục cống hiến. Đến tuổi này, tôi thấy mình rất may mắn khi vẫn còn sức khỏe để đi lại, làm việc, gặp gỡ đối tác và chứng kiến con cháu trưởng thành.

Hạnh phúc lớn nhất hiện nay là được nhìn thấy gia đình đoàn kết, các con trưởng thành và doanh nghiệp vận hành ổn định.

Việc điều hành hoạt động kinh doanh, tôi giao hoàn toàn cho vợ (nữ diễn viên Lê Hồng Thủy Tiên – NV) cùng đội ngũ lãnh đạo trẻ. Còn tôi ở phía sau và duy trì chế độ “Thái Thượng Hoàng” (cười).

gia_dinh.jpg
Đại gia đình nổi tiếng của tỷ phú Johnathan Hạnh Nguyễn. Ảnh: tiennguyenn/Instagram

Điều khiến tôi tự hào nhất không phải là quy mô tài sản, mà là việc doanh nghiệp luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước.

Các đơn vị trong hệ sinh thái như SASCO, Cam Ranh International Terminal cùng nhiều doanh nghiệp thành viên nhiều năm liền đều được ghi nhận về thành tích thực hiện nghĩa vụ thuế với đất nước.

Về triết lý quản trị gia đình, đối với tôi điều quan trọng nhất là người cha phải làm gương cho con cái bằng chính hành động, việc làm cụ thể của mình.

Suốt cuộc đời mình, tôi không la mắng hay áp đặt các con. Tôi luôn dùng cách nói nhẹ nhàng nhưng thấm, làm sao để các con hiểu được trách nhiệm của mình trong gia đình là gì.

Tôi cũng đã phân rõ trách nhiệm cho từng người con trong hệ sinh thái kinh doanh của gia đình. Các con tôi đều được đào tạo bài bản đến trình độ thạc sĩ và được tiếp cận môi trường giáo dục quốc tế. Nhờ vậy, các thế hệ trong gia đình có thể trao đổi công việc trên cùng một nền tảng kiến thức và tư duy.

Và tôi cũng luôn nhắc nhở các con là dù mang nhiều quốc tịch khác nhau, nguồn cội Việt Nam vẫn phải được đặt lên hàng đầu. Tôi dặn rằng các con có thể mang quốc tịch Mỹ, Philippines hay Australia, nhưng quốc tịch đầu tiên vẫn là quốc tịch Việt Nam. Phải sống có trách nhiệm với đất nước, tuân thủ pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế ở bất cứ nơi nào mình hoạt động.

- Xin trân trọng cảm ơn ông vì đã dành cho Tạp chí Hàng không một cuộc trò chuyện cởi mở, thân tình.

“Phải biết chớp lấy cơ hội, đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu”

Nhân kỷ niệm 70 năm ngành Hàng không Việt Nam, ông Johnathan Hạnh Nguyễn đã chia sẻ những cảm xúc đặc biệt khi nhìn lại hành trình phát triển của ngành. Ông nhớ lại những ngày đầu tham gia mở đường bay quốc tế cho Việt Nam cách đây 40 năm, khi điều kiện vô cùng thiếu thốn. Những chuyến bay đầu tiên được thực hiện bằng những chiếc Boeing 707 cũ kỹ, cơ sở vật chất nghèo nàn và đầy rủi ro.

dsc07091.jpg
Nhà báo Phạm Quốc Hợp - Trưởng Ban Biên tập Tạp chí Hàng không tặng lẵng hoa chúc mừng tỷ phú Johnathan Hạnh Nguyễn. Ảnh: Lê Nam

“Hồi đó, mỗi lần máy bay cất cánh rồi hạ cánh an toàn là chúng tôi mừng đến nghẹn người. Không ai dám nghĩ rằng hàng chục năm sau Việt Nam sẽ có những đội tàu bay hiện đại với Airbus A350, Boeing 787 hay những sân bay quốc tế quy mô lớn như hiện nay”, ông kể lại.

Theo ông, sự phát triển của ngành hàng không Việt Nam là thành quả của nhiều thế hệ lãnh đạo, cán bộ và người lao động đã không ngừng nỗ lực trong suốt nhiều thập kỷ. Ông đánh giá cao quan điểm phát triển thận trọng của ngành hàng không Việt Nam, nhưng đồng thời cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, sự thận trọng cần đi cùng khả năng nắm bắt cơ hội.

“Chậm mà chắc là cần thiết. Nhưng nếu chậm quá thì sẽ bị tụt lại phía sau. Điều khó nhất của người lãnh đạo là phải tìm được sự cân bằng giữa sự an toàn và tốc độ phát triển. Nếu có quyết tâm, chúng ta hoàn toàn có thể làm được”, ông nhấn mạnh.

Ông gửi gắm thông điệp tới các thế hệ đang và sẽ tiếp tục đóng góp cho ngành hàng không Việt Nam: Hãy luôn giữ tinh thần tiên phong, dám nghĩ dám làm, biết nắm bắt cơ hội và đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Theo ông, đó chính là nền tảng để ngành hàng không Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những thập kỷ tới.

"Ngành hàng không là một hệ sinh thái thống nhất"

Từ kinh nghiệm hơn 40 năm gắn bó với ngành hàng không, ông Johnathan Hạnh Nguyễn cho rằng giai đoạn tới Việt Nam cần đặc biệt chú trọng phát triển hệ thống hạ tầng sân bay một cách đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn.

Theo ông, các sân bay lớn như Long Thành, Nội Bài, Đà Nẵng hay Cam Ranh... cần được đặt trong một chiến lược tổng thể nhằm tối ưu hóa hiệu quả khai thác và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ông bày tỏ lo ngại rằng nếu quy hoạch thiếu đồng bộ hoặc phát triển theo tư duy cục bộ địa phương, nguồn lực có thể bị phân tán, làm giảm hiệu quả đầu tư và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh chung của ngành hàng không Việt Nam.

“Ngành hàng không là một hệ sinh thái thống nhất. Khi đưa ra các quyết định đầu tư lớn, cần đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Nếu mỗi nơi phát triển theo cách riêng mà thiếu sự kết nối thì rất dễ dẫn đến lãng phí nguồn lực”, ông Hạnh Nguyễn nhận định.

6(1).jpg

Hải Phong - Diệp Linh - Phi Khanh - Lê Nam