Đẩy mạnh xã hội hóa để triển khai quy hoạch cảng hàng không quốc gia
Chiều 20/4, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề về hạ tầng giao thông được đại biểu Quốc hội nêu trong phiên thảo luận về phát triển kinh tế-xã hội.
Đối với lĩnh vực hàng không, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết cả nước hiện mới có 22 cảng hàng không, đáp ứng công suất 155 triệu lượt hành khách/năm.

Theo quy hoạch đến năm 2030 cả nước có 31 cảng hàng không (gồm 15 cảng quốc tế, 16 cảng nội địa), công suất khoảng 294 triệu hành khách/năm. Dự kiến Việt Nam sẽ có 34 sân bay, công suất khai thác 533 triệu hành khách/năm vào năm 2050.
Về định hướng phát triển, trong các cảng hàng không theo quy hoạch sẽ có 6 cảng cấp 4F, 1 cảng cấp 4C, các cảng còn lại cấp 4E.
Về đầu tư, Bộ trưởng cho biết, định hướng sẽ giảm tỷ trọng đầu tư công, tập trung các dự án nâng cấp sửa chữa; tăng cường huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là các dự án PPP và đầu tư tư để phát triển cảng hàng không.
Trước đó, Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt đề cương lập điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Một trong những điểm đáng chú ý trong quan điểm lập quy hoạch lần này là tính động và mở. Theo đó, quy hoạch không mang tính cứng nhắc mà tạo dư địa phát triển trong dài hạn, cho phép điều chỉnh linh hoạt theo nhu cầu thực tiễn. Đây được xem là yếu tố quan trọng nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các vùng, miền.
Bên cạnh đó, mục tiêu lập điều chỉnh quy hoạch là nghiên cứu bổ sung cảng hàng không mới (Măng Đen, Vân Phong) vào hệ thống cảng hàng không toàn quốc và điều chỉnh cấp sân bay của Cảng hàng không Quảng Trị (từ cấp 4C lên cấp 4E).
Nội dung lập điều chỉnh quy hoạch bao gồm đánh giá sự cần thiết; xác định quan điểm, mục tiêu điều chỉnh quy hoạch; phân tích, đánh giá về các yếu tố, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội tại khu vực dự kiến điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cảng hàng không và các khu vực lân cận ảnh hưởng đến sự hình thành cảng hàng không mới; nghiên cứu, đánh giá các yếu tố kỹ thuật để lựa chọn vị trí cảng hàng không.
Đồng thời, đánh giá sơ bộ về khả năng tổ chức vùng trời, thiết kế phương thức bay của cảng hàng không mới; dự báo nhu cầu vận tải của cảng hàng không mới; đánh giá tác động có liên quan khi hình thành cảng hàng không mới; xác định tính chất, vai trò, chức năng và quy mô, công suất sơ bộ của cảng hàng không, loại tàu bay dự kiến khai thác; định hướng bố trí sử dụng đất cho việc quy hoạch, phát triển các cảng hàng không...
22 cảng hàng không hiện có ở Việt Nam được hình thành qua nhiều giai đoạn, phần lớn được chuyển đổi từ sân bay quân sự sang dân dụng, trong đó một số cảng phục vụ quốc tế.
Tuy vậy, chỉ có 3 cảng đạt chuẩn 4F theo tiêu chuẩn quốc tế; đa số còn lại mới ở mức 4C, dẫn tới hệ thống đường băng, đường cất/hạ cánh của nhiều sân bay chưa đáp ứng yêu cầu khai thác của các hãng bay quốc tế.
Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế (ICAO), sân bay cấp 4F là cấp cao nhất trong hệ thống phân loại của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế, được xác định dựa trên kích thước đường cất hạ cánh và sải cánh của máy bay. Những sân bay này có đường băng dài từ 1.800m trở lên và đủ điều kiện kỹ thuật để tiếp nhận an toàn các dòng máy bay thân rộng, siêu lớn như Airbus A380 hay Boeing 747-8.