Nhà máy lọc dầu Dung Quất đang đẩy công suất lên mức kỷ lục, đồng thời nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nhằm gia tăng sản lượng Jet A-1.
Động thái này được kỳ vọng góp phần ổn định nguồn cung trong nước, khi nhu cầu nhiên liệu hàng không Jet A-1 trong nước đang chịu áp lực lớn từ thị trường quốc tế.
Thông tin từ Công ty Cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) - đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), trước những diễn biến phức tạp của nguồn cung nhiên liệu, đặc biệt là nhiên liệu hàng không, doanh nghiệp này đang nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để tăng cường sản xuất nhiên liệu hàng không Jet A-1.
Hiện nay, BSR đang quản lý, vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất ở mức công suất quy đổi khoảng 123,5%. Thời gian qua, nhiều phân xưởng công nghệ chính tại nhà máy lọc dầu Dung Quất đã được nghiên cứu và vận hành vượt công suất so với thiết kế nhằm gia tăng sản lượng các sản phẩm có nhu cầu cao như xăng RON 95, dầu DO, nhiên liệu hàng không Jet A-1...

Trong đó, phân xưởng KTU đã được nâng công suất và chính thức vận hành ổn định ở mức 144% kể từ 11 giờ ngày 30/3/2026. Trước đó vào năm 2025, phân xưởng KTU cũng đã được vận hành an toàn, ổn định ở mức công suất trung bình khoảng 140%, sản xuất 509.042 tấn sản phẩm. Sản lượng này đáp ứng hơn 30% nhu cầu nhiên liệu hàng không trong nước, ở mức khoảng 1,5 triệu tấn Jet A-1/năm.
Trước bối cảnh nhiều tuyến bay trong nước đang phải tạm dừng do giá nhiên liệu tăng mạnh và nguy cơ thiếu hụt nguồn cung, BSR đang triển khai các giải pháp để tăng cường sản xuất nhiên liệu hàng không Jet A-1.
Theo đó, BSR sẽ tận dụng tối đa năng lực thiết bị, thực hiện việc nâng công suất phân xưởng KTU lên 145% để gia tăng nguồn nhiên liệu hàng không cho thị trường.
Ông Cao Tuấn Sĩ - Giám đốc nhà máy lọc dầu Dung Quất cho rằng, việc vận hành KTU ở mức 144% công suất từ ngày 30/3/2026 đã cho thấy khả năng làm chủ công nghệ và tính linh hoạt trong điều hành sản xuất của Nhà máy.
Khi nâng lên mức 145% từ 16h ngày 1/4/2026, yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các thông số vận hành, bảo đảm tuyệt đối an toàn, ổn định thiết bị và hiệu quả”.
Được biết, trong điều kiện khai thác bình thường, số liệu sản lượng tra nạp nhiên liệu hàng không tại các cảng hàng không, sân bay trên toàn quốc dao động từ 1,4 - 1,6 triệu tấn/năm.
Cụ thể, theo thống kê của Cục Hàng không Việt Nam, tổng sản lượng tra nạp nhiên liệu năm 2024 đạt 1.644.255 tấn. Trong 9 tháng đầu năm 2025, con số này đạt 1.411.215 tấn.

Từ cuối tháng 2 vừa qua, khi xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran xảy ra, nguồn cung nhiên liệu hàng không Jet A-1 bị hạn chế, giá tăng cao đột biến. Điều này đã khiến các hãng hàng không phải điều tiết lại mạng bay, giảm tần suất, cắt giảm nhiều đường bay hiệu quả thấp.
Trước tình trạng khan hiếm nguồn cung, các hãng bay cũng đã tìm kiếm nguồn nhiên từ bên ngoài. Ông Đinh Việt Phương, Phó Tổng giám đốc Vietjet Air chia sẻ, để khai thác - vận hành đội tàu bay hơn 100 chiếc, hãng bay này cần lượng nhiên liệu bay rất lớn.
Do đó, Vietjet luôn đặt mua lượng nhiên liệu với sản lượng cao. Điều này tạo lợi thế cho Vietjet khi các nhà nhập khẩu xăng dầu thường sẽ ưu tiên những khách hàng lớn như Vietjet. Việc nhập khẩu số lượng lớn kéo theo giá nhiên liệu mua vào của Vietjet cũng sẽ rẻ hơn các hãng bay nhập ít hơn.

Ngoài ra, do có mạng bay rộng, nên Vietjet thực hiện linh hoạt chọn thị trường - đường bay phù hợp để quá cảnh và tối ưu chi phí nhiên liệu khi xung đột Trung Đông diễn ra.
Cũng theo ông Phương, trong khi nhiều quốc gia thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu xăng dầu và nhiên liệu bay, vẫn còn một số quốc gia chưa “cấm cửa” các hãng bay nước ngoài đến tra nạp nhiên liệu bay, ví dụ như Kazakhstan.
Tại đây, chi phí nhiên liệu không những không thay đổi và còn được Nhà nước trợ giá. Do đó, khi xung đột xảy ra tại Trung Đông, Vietjet đã chọn quá cảnh sang Kazakhstan. Tại Kazakhstan, hãng tra nạp nhiên liệu cho chiều bay về. Điều này giúp giá nhiên liệu bay trở về của Vietjet thấp hơn, giúp tiết giảm chi phí.